Tha hoá Trí thức
Đọc lại Khuyến học, nghĩ về Fukuzawa Yukichi, và lòng hiếu học bị phụ bạc.
Mỗi năm, hàng trăm ngàn gia đình Việt Nam đổ tiền bạc và tâm huyết vào việc học của con cái. Từ lớp luyện thi tỉnh lẻ đến trung tâm IELTS giữa Sài Gòn, từ đội tuyển học sinh giỏi cấp quận đến kì thi tuyển sinh đại học, dòng chảy ấy chưa bao giờ cạn. Trên các bảng xếp hạng quốc tế, học sinh Việt thường xuyên đạt điểm vượt xa mức kì vọng dựa trên thu nhập bình quân đầu người. Đo bằng sự chăm chỉ, bằng lòng hiếu học, bằng ý chí vươn lên qua con đường sách vở, thì dân tộc này có thừa chứ không thiếu.
Vậy mà lời trách cứ quen thuộc kia vẫn trở đi trở lại. Người Việt coi thường tri thức ư? Tư duy hời hợt ư? Thiếu cái tinh thần cầu học mà Fukuzawa Yukichi từng gieo cho nước Nhật Minh Trị hơn một trăm năm trước?
Lời trách cứ ấy rõ ràng là sai, nhưng nó sai theo cái cách đáng để ta phải dừng lại suy nghĩ.
Người Việt quyết không rẻ rúng tri thức. Nhưng sự học, khi đi qua bộ máy thể chế, biến thành một thứ khác hẳn cái mà Fukuzawa hình dung. Nó biến thành thành tích, thành bằng cấp, thành những con số trên giấy mà ai cũng ngầm hiểu không phản ánh năng lực thật nhưng không ai dám bỏ cuộc chơi. Lòng hiếu học vẫn còn đó, nhưng cái đích đã bị biến cải: không còn là năng lực để kiến quốc, mà là chứng chỉ để mưu sinh, hay cay đắng hơn, là tấm vé để tháo chạy khỏi quê hương.
Cuốn Khuyến học của Fukuzawa từng bán được hơn ba triệu bản trong một nước Nhật chỉ vỏn vẹn ba mươi lăm triệu dân. Con số ấy dễ khiến người ta nghĩ sức mạnh của cuốn sách nằm ở bản thân nội dung con chữ. Fukuzawa viết hay đến mức thức tỉnh cả một dân tộc, và từ đó suy ra rằng bi kịch của những quốc gia trì trệ là do chưa gặp đúng bậc hiền triết, chưa nghe đủ những lời rao giảng về đổi mới tư duy.
Cách hiểu ấy lật ngược trình tự nhân quả.
Khuyến học không sinh ra cuộc Duy Tân Minh Trị. Chính sự thay đổi tàn khốc của cấu trúc thượng tầng đã dọn đường cho cuốn sách ấy. Trước khi Fukuzawa hạ bút, Mạc phủ đã sụp đổ. Những nhà kiến tạo triều đại mới đã cử phái đoàn đi khắp Tây phương, dựng lên các đại học đế quốc, và đập nát thứ đặc quyền thế tập của giới samurai để trải đường cho một nền hành chính thực tài. Fukuzawa cất tiếng nói vì ông biết có một thể chế đang khát khao lắng nghe. Cuốn sách của ông là mồi lửa trực cháy trong một lò nung đã được xây xong từ lâu.
Điều quan trọng là cần phải nhìn vào sự khác biệt. Hiểu sai, ta sẽ đi tìm đáp án ở sai chỗ. Ta tưởng cần thêm sách hay, thêm diễn giả truyền cảm hứng, thêm lời kêu gọi đổi mới tư duy, trong khi câu hỏi thực sự chưa bao giờ nằm ở chỗ “dân tộc này có chịu học không”. Câu hỏi nằm ở chỗ thể chế này có chịu dùng người đã học không?
Khi một thể chế tưởng thưởng lòng trung thành thay vì năng lực, nó không đơn thuần lãng phí nhân tài. Nó dạy cho nhân tài một bài học khác. Sự thành thật trở thành xa xỉ. Giỏi giang mà thiếu chỗ dựa thì chẳng đi đến đâu. Cách sống khôn ngoan nhất, theo lối dạy ngầm ấy, là giỏi vừa đủ để không bị gạt ra ngoài, ngoan ngoãn vừa đủ để có người đỡ đầu. Thể chế ấy không đàn áp kẻ sĩ theo kiểu đốt sách chôn nho. Nó làm một việc tinh vi hơn nhiều: nó dạy kẻ sĩ tự gạt phăng đi cái phần tốt nhất trong chính mình.
Cuộc Duy Tân Minh Trị, trong cách kể thông thường, là câu chuyện về một dân tộc bừng tỉnh. Nước Nhật mở cửa, tiếp thu văn minh phương Tây, thay đổi tư duy, rồi vươn lên thành cường quốc. Câu chuyện ấy rất truyền cảm hứng, nhưng nó lại bị giản lược đến mức sai lệch. Cái thực sự xảy ra ở Nhật Bản từ 1868 trở đi không phải là một cuộc thức tỉnh tinh thần. Đó là một công trình xây dựng thể chế, có tính toán, có thiết kế, và lạnh lùng đến mức đáng nể.
Phái đoàn Iwakura rời Nhật cuối năm 1871, gồm gần năm mươi quan chức cấp cao cùng hơn một trăm sinh viên tháp tùng. Trong gần hai năm, họ đi qua Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Phổ, Nga. Họ không đi để “học hỏi tinh thần” theo cái nghĩa mơ hồ mà ta hay nghe. Họ đi để nghiên cứu cơ chế. Hệ thống thuế của Anh. Bộ máy hành chính của Phổ. Mô hình ngân hàng trung ương. Quy trình lập pháp. Cách tổ chức quân đội hiện đại. Ghi chép tỉ mỉ, đối chiếu kĩ lưỡng, và họ mang về nước Nhật một bản thiết kế quốc gia chứ không phải một luồng cảm hứng.
Rồi họ bắt tay vào công cuộc xây dựng. Năm 1872, sắc lệnh giáo dục bắt buộc toàn quốc. Năm 1873, luật nghĩa vụ quân sự phá vỡ độc quyền của tầng lớp samurai. Năm 1877, Đại học Đế quốc Tokyo thành hình. Năm 1882, Ngân hàng Nhật Bản ra đời. Năm 1885, đến lượt Luật sáng chế và chế độ nội các. Năm 1887, thi tuyển công chức theo năng lực, mô phỏng hệ thống Beamtentum của Phổ. Năm 1889, Hiến pháp Minh Trị được giới thiệu. Năm 1890, phiên họp Quốc hội đầu tiên được tổ chức.
Liệt kê thì có phần dài dòng, nhưng chính cái dài ấy mới cho thấy quy mô của nó vĩ đại đến mức nào. Đây không phải chuyện một vài cá nhân đổi mới tư duy rồi kéo theo cả nước. Đây là một thể chế tự xây lại chính mình từ nền móng, một cách có hệ thống, có chủ đích, và do chính những người nắm quyền lực thực sự hoạch định rồi thi hành.
Nước Nhật còn có một lợi thế mà ít ai nhắc. Suốt hơn hai trăm năm bế quan dưới thời Mạc phủ Tokugawa, một cánh cửa nhỏ vẫn hé mở: thương điếm Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Qua khe cửa ấy, một truyền thống học thuật gọi là rangaku âm thầm duy trì sợi dây nối với tri thức phương Tây. Y học, thiên văn, quang học, bản đồ học, tất cả đều lọt vào Nhật qua con đường này. Khi Minh Trị mở cửa, nước Nhật không khởi phát từ con số không. Đã có sẵn một tầng lớp trí thức biết đọc, biết so sánh, và sẵn sàng tiếp nhận tri thức phương Tây với tư thế của người chọn lọc chứ không phải kẻ sùng bái.
Bản thân Fukuzawa Yukichi là một sản phẩm tinh hoa của dòng chảy rangaku ấy. Ông đã thấu hiểu tiếng Hà Lan và hấp thụ bầu không khí Anh Mỹ từ rất lâu trước khi ngồi xuống thảo những dòng đầu tiên của Khuyến học. Cuốn sách đó không hề rơi xuống từ cõi hư vô. Nó mọc lên từ một mảnh đất trí thức đã vun trồng qua nhiều thế hệ, và nở hoa trong một thể chế vừa kịp sẵn sàng chăm nom, sẵn sàng kiến tạo cơ đồ.
Sự vĩ đại của giới tinh hoa Minh Trị không nằm ở việc họ thao túng quyền lực một cách bạo liệt. Rất nhiều chế độ đã cai trị bằng sự bạo liệt mà rốt cuộc chỉ tạo ra những nhà xác khổng lồ. Điều làm nên sự khác biệt của Minh Trị là họ thấu hiểu lằn ranh tối hậu của thuật trị quốc: Nhà nước kiến tạo luật chơi, chứ không can dự vào kết quả. Họ thiết lập một hệ thống giáo dục mở đường cho mọi tầng lớp, một nền hành chính thi tuyển sàng lọc thực tài, và một bộ luật sáng chế bảo vệ những ý tưởng mới phôi thai. Báo chí có đủ tự do để phản hồi lại chính sách mà không phải trả giá bằng mạng sống. Không một quan chức Minh Trị nào ngạo mạn ngồi trên cao để phán quyết ngành công nghiệp nào sẽ chiến thắng hay tri thức nào là duy nhất đúng. Họ thiết lập những quy tắc phổ quát. Họ hiểu rằng ngay cả một bộ máy hành chính xuất chúng nhất cũng không thể sở hữu tri thức của toàn xã hội. Sức mạnh của nước Nhật bừng sáng chính từ sự khiêm nhường mang tính thể chế ấy: để cho các giải pháp tự vươn lên qua quá trình cạnh tranh tự do dưới thượng tôn pháp luật.
Sức mạnh thật sự của Minh Trị nằm ở sự phân biệt tưởng như đơn giản mà rất ít chế độ làm được: xây quy tắc chứ không xây kết quả. Bởi không ai, kể cả bộ máy nhà nước tinh vi nhất, đủ thông minh để biết trước mọi đáp án. Nhưng bất kì ai cũng có thể dựng nên một hệ thống mà trong đó đáp án có cơ may tự lộ diện.
Khi từ lăng kính Minh Trị nhìn xoáy vào thực tại Việt Nam, ta chỉ thấy một hố sâu ngăn cách. Sự thua kém chưa bao giờ nằm ở trí tuệ hay khí phách của con người xứ này. Bi kịch là khi nước Nhật có giới tinh hoa Minh Trị, thì Việt Nam chịu sự kìm kẹp của thực dân Pháp, để rồi sau đó trượt dài vào những thể nghiệm khốc liệt làm xói mòn mọi nền tảng dân sự. Trong suốt hơn một thế kỷ bể dâu ấy, người Việt Nam đã có những trí thức lỗi lạc, nhưng chúng ta chưa từng có một triều đình, một Minh Trị đủ tầm vóc để lắng nghe họ.
Năm 1939, Thu Giang Nguyễn Duy Cần cho ra đời Tôi tự học, cuốn sách bàn về phương pháp tự giáo dục với chiều sâu và sự nghiêm cẩn không thua gì Khuyến học. Ông viết về kỉ luật trí tuệ, về hoài nghi có phương pháp, về cách rèn tư duy logic. Cuốn Thuật tư tưởng tiếp nối sau đó còn đi xa hơn, đặt nền móng cho một lối nghĩ mà ngày nay người ta gọi là “tư duy phản biện” nhưng ông đã dạy từ tám mươi năm trước, bằng tiếng Việt trong sáng, không cần vay mượn thuật ngữ ngoại lai.
Trước Thu Giang là Phan Châu Trinh. Ngay từ đầu thế kỉ hai mươi, Phan Châu Trinh đã nhìn ra đúng cái mà Fukuzawa nhìn ra ở Nhật: nước yếu không phải vì dân ngu mà vì thể chế mục nát, vì tầng lớp cầm quyền cấu kết với ngoại bang thay vì khai phóng dân trí. Ông vận động mở trường, cải cách giáo dục, dâng thư cho chính quyền thuộc địa xin lập trường kiểu mới. Người Pháp từ chối. Không phải vì bất đồng sư phạm. Mà vì một dân tộc biết nghĩ là mối đe dọa trực tiếp cho bộ máy cai trị.
Rồi Nguyễn Hiến Lê, con người tự học suốt đời, viết hơn một trăm đầu sách từ triết học Hy Lạp đến kinh tế chính trị, một mình gánh vai trò của cả một viện hàn lâm trong hoàn cảnh không có viện hàn lâm nào. Dù kính trọng sức lao động trí thức của ông đến mấy, ta vẫn phải thừa nhận: ảnh hưởng của ông đối với quỹ đạo quốc gia gần như bằng không. Ông thay đổi được một số đầu óc, nhưng lại không thay đổi được bất cứ thể chế nào.
Fukuzawa viết xong, sinh viên đổ vào Đại học Đế quốc Tokyo, thi tuyển công chức, được bổ nhiệm theo năng lực, phục vụ trong một bộ máy mà sự thăng tiến gắn liền với hiệu quả thật. Dòng chảy từ sách vở ra thực tiễn quốc gia có lòng sông rõ ràng. Thu Giang viết xong, người đọc gật gù tâm đắc, gấp sách lại, quay về với một thực tại mà mọi thứ ông dạy đều vô dụng. Dòng chảy ấy đổ ra sa mạc.
Nhìn sang Trung Quốc thì bức tranh đáng ngẫm hơn, bởi đây là hệ thống chính trị gần gũi nhất với Việt Nam về cấu trúc quyền lực. Kì thi Cao khảo khốc liệt, có thể nói là bất nhân theo nhiều nghĩa. Nhưng về mặt cấu trúc, nó vận hành như một cơ chế sàng lọc có chức năng: phát tín hiệu về năng lực tương đối, minh bạch đến tàn nhẫn, để cả hệ thống dựa vào đó mà phân bổ cơ hội. Một học sinh vùng quê Cam Túc có thể đạt điểm cao, và có thể vào được Bắc Đại hay Thanh Hoa. Cánh cửa tuy hẹp, rất hẹp, nhưng có thật, và cái có thật ấy làm được một việc mà không bài diễn văn nào về lòng hiếu học làm nổi: nó giữ cho mối liên kết giữa nỗ lực và kết quả không bị đứt gãy hoàn toàn. Kì thi tuyển công chức toàn quốc, dù lắm bất cập, vẫn mở ra một lối đi cho người muốn phụng sự nhà nước bằng thực lực chứ không bằng quan hệ. Ngay cả trong khuôn khổ một đảng cầm quyền, vẫn có thể thiết lập những cơ chế sàng lọc tối thiểu để năng lực còn có giá trị quy đổi.
Việt Nam không có gì tương đương. Kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, sau nhiều năm lạm phát điểm số và thao túng ở cấp địa phương, đã mất gần hết chức năng đo lường. Tuyển dụng công chức phụ thuộc nặng vào quan hệ và độ dày hầu bao. Đại học bán bằng, theo nghĩa đen ở nhiều cơ sở, theo nghĩa bóng ở hầu hết những nơi còn lại. Khi mọi tín hiệu về năng lực bị phá hủy, cạnh tranh không biến mất. Nó chuyển sang một sân chơi khác: sân chơi của tiền, của thân quen, của lòng trung thành.
Phân tích thông thường dừng lại ở đây và gọi đó là “lãng phí nhân tài”. Chẩn đoán ấy đúng nhưng còn khá bề mặt. Lãng phí là khi năng lực không được sử dụng. Cái xảy ra ở Việt Nam nặng nề hơn nhiều: năng lực bị sử dụng, nhưng sử dụng để phục vụ cho một quy trình đúc khuôn nhân cách mà chế độ không cần ra văn bản mới thi hành.
Quy trình ấy vận hành có trình tự. Thế hệ trẻ vào đại học và nhận ra rằng suất học, suất thực tập, suất tuyển dụng không phân phối theo thực lực. Nhận ra không dẫn đến phản kháng. Bởi phản kháng đòi hỏi một niềm tin nền tảng rằng hệ thống còn có thể vãn hồi, hoặc chí ít là có một không gian để cất lời mà không rước họa vào thân. Khi niềm tin ấy hoàn toàn vắng bóng, trí tuệ sắc bén sẽ tự tìm đến con đường thích nghi duy lý nhất: sự khuất phục. Những bộ óc ưu tú học cách đọc vị quyền lực, nương theo bóng tối, nhún nhường đúng chỗ và im lặng đúng thời điểm. Sự thông minh vẫn còn đó, nhưng nó đã bị giáng cấp thành một thứ công cụ sinh tồn vị kỷ, tước bỏ hoàn toàn mọi thao thức về lợi ích công cộng. Chế độ không cần bận tâm đến việc đàn áp tầng lớp trí thức. Nó chỉ cần duy trì một cấu trúc phần thưởng mà ở đó, phẩm chất thượng thặng không phải là năng lực hay sự chính trực, mà là một sự thuần phục có ý thức.
Đây là nọc độc thật sự của nền chuyên chế mềm, và nó tinh vi hơn hẳn mọi hình thức đàn áp thô bạo. Chế độ không còn thiêu sống kẻ phản kháng. Nó tước khí phách của họ ngay từ vạch xuất phát, bằng cách xây dựng một hệ thống mà ở đó khí phách không có chỗ quy đổi. Kết quả không phải một dân tộc ngu dốt. Kết quả là một dân tộc thông minh mà thiếu can đảm, cần cù mà thiếu chí hướng, hiếu học mà không biết học để làm gì ngoài việc thoát thân. Ba trăm ngàn du học sinh Việt Nam đang lưu lạc ở xứ người không đơn thuần là một thống kê về giáo dục. Đó là một cuộc thiên di của trí thức. Tài năng không bị đánh cắp; nó tự tìm đường tháo chạy, bởi nơi nó sinh ra không có một mạch máu thể chế nào đủ sức nuôi dưỡng nó.
Trên các bảng xếp hạng PISA, học sinh Việt Nam mười lăm tuổi vẫn đạt điểm khoa học và toán cao hơn nhiều quốc gia giàu gấp ba bốn lần. Nguyên liệu trí tuệ không thiếu. Nhưng nguyên liệu mà không có thiết chế nào tiếp nhận, sàng lọc, chuyển hóa thành năng lực quốc gia thì chỉ là đống ngọc thô không được mài dũa đem phơi ngoài trời.
Có một thể loại rất thịnh hành trong đời sống trí thức Việt Nam đương đại: đọc một cuốn sách nước ngoài hay, rồi quay sang tự phê phán chính mình. Cách thức thì rất quen mắt: tìm một tác phẩm nổi tiếng, tốt nhất là của Nhật hoặc phương Tây. Tóm tắt nội dung với giọng ngưỡng mộ. Rồi đặt câu hỏi: tại sao chúng ta không được như họ? Câu trả lời rất có khả năng là tại văn hóa, tại tâm lý dân tộc, tại người Việt mình nó thế. Kết luận được rút ra trong tiếng thở dài tập thể, và ai nấy đều cảm thấy mình vừa làm một việc dũng cảm.
Nhưng sự dũng cảm ấy có giá bao nhiêu? Phê phán “văn hóa” không mất gì cả. Văn hóa không ra lệnh bắt ai, không cắt lương, cũng không thu hồi giấy phép, không đặt họp riêng cảnh cáo. Đổ lỗi cho tâm lý dân tộc là hình thức phê phán an toàn nhất có thể nghĩ ra, bởi nó chĩa mũi dáo vào một thực thể trừu tượng không có khả năng trả đòn.
Fukuzawa không làm vậy. Ông gọi đích danh chế độ phong kiến. Ông chỉ mặt tầng lớp sĩ phu ăn bám vào đặc quyền cũ. Ông đòi cải tổ bộ máy cai trị, thay đổi luật lệ, xây dựng thiết chế mới. Ông làm được điều đó vì Minh Trị, dù chưa hoàn hảo, vẫn cho phép ông lên tiếng. Có báo chí để đăng bài. Có nghị viện để tranh luận. Có một không gian công, dù chật, vẫn có chỗ cho những lời nói trung thực được cất tiếng.
Trong truyền thống chính trị Việt Nam, vai trò ấy đã từng có một tên gọi. Kẻ sĩ nói thẳng với vua cái vua không muốn nghe, chấp nhận rủi ro, đôi khi bằng cả tính mạng. Can gián không phải phê phán văn hóa; nó là phê phán quyền lực, nhắm vào người có quyền, về những quyết định cụ thể. Truyền thống ấy đã chết, không phải vì người Việt hèn hơn xưa, mà vì cái giá phải trả đã thay đổi. Xưa, can gián có thể mất đầu nhưng được sử sách ghi danh. Nay, phê phán thể chế mất tất cả mà không được gì, bởi không có sử sách nào độc lập để ghi nhận, không có công luận nào tự do để bảo vệ.
Khi không thể phê phán triều đình, người ta quay sang phê phán triều thần. Khi triều thần cũng chạm không được, người ta phê phán dân. Cứ thế, mũi tên phê phán lùi dần cho đến khi chỉ còn chĩa vào thứ duy nhất không cắn trả: tính cách dân tộc. Phê phán văn hóa, trong bối cảnh một xã hội thiếu đi tự do ngôn luận thực chất, không phải là dũng khí trí thức. Nó là dấu hiệu cho thấy dũng khí trí thức đã bị dồn vào ngõ cụt.
Cay đắng hơn nữa, chính hành vi ấy lại củng cố cho thể chế mà nó tưởng mình đang phê phán. Mỗi lần ai đó kết luận “tại dân mình nó thế”, thể chế được miễn trừ trách nhiệm thêm một lần. Cái sai của hệ thống được chuyển hóa thành khuyết tật bẩm sinh của dân tộc, và nhà cầm quyền, nếu có đọc được những dòng ấy, chắc cũng mỉm cười đồng tình.
Cuối cùng, hãy cùng quay lại với Fukuzawa.
Bài học của Khuyến học không phải “hãy chăm học”. Bất cứ ai đọc cuốn sách ấy mà chỉ rút ra được lời khuyên về sự siêng năng cá nhân thì đã bỏ lỡ gần như toàn bộ ý nghĩa của nó. Fukuzawa viết một luận thuyết chính trị về mối quan hệ giữa dân trí và thể chế, trong đó cả hai phải cùng chuyển mình thì quốc gia mới chuyển mình theo. Dân trí mà thiếu thể chế tương xứng thì chỉ là năng lượng không có mạch dẫn; thể chế mà thiếu dân trí thì chỉ là cái vỏ rỗng. Nhật Bản thành công vì cả hai cùng có mặt trong cùng một khoảnh khắc lịch sử. Còn bao nhiêu dân tộc khác chỉ có một trong hai, hoặc không có gì cả.
Việt Nam có dân trí. Điều ấy không cần chứng minh thêm. Cái thiếu - suốt hơn trăm năm, là thể chế đi kèm. Không phải vì không ai hình dung nổi thể chế ấy trông như thế nào. Ngược lại, hình dung ấy không có gì bí ẩn. Một hệ thống thi tuyển công chức minh bạch, nơi năng lực có giá trị quy đổi thật. Những đại học nghiên cứu độc lập, nơi tri thức được tạo ra chứ không chỉ được tái sản xuất. Một nền báo chí có khả năng gọi tên thất bại của chính quyền mà không phải trả giá bằng tự do. Những thiết chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, để người có ý tưởng không bị cướp công trắng trợn. Không có gì trong danh sách ấy là xa lạ. Đó chính xác là những gì Minh Trị xây dựng ở Nhật, là những gì Hàn Quốc sau chiến tranh dần thiết lập, là những gì Đài Loan cuối cùng cũng buộc phải chấp nhận khi muốn vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Không thiếu công thức, không thiếu tiền lệ. Bản thiết kế nằm đó, ai cũng có thể đọc được.
Bi kịch không nằm ở chỗ không biết phải làm gì. Bi kịch nằm ở chỗ biết rõ phải làm gì mà không có con đường nào để làm.
Mọi cải cách thể chế đều đòi hỏi một trong hai điều kiện: hoặc tầng lớp cầm quyền tự nguyện mở rộng không gian (như Minh Trị, dù với động cơ thực dụng chứ không phải lý tưởng), hoặc áp lực từ bên ngoài và bên dưới buộc họ phải nhượng bộ (như Hàn Quốc thập niên tám mươi). Ở Việt Nam, cả hai điều kiện ấy đều chưa hội tụ. Tầng lớp cầm quyền không có lý do nào để cải cách một hệ thống đang phục vụ tốt cho chính họ. Và xã hội dân sự, vốn là nơi áp lực từ bên dưới hình thành, đã bị giải giáp đến mức gần như không tồn tại với tư cách một lực lượng chính trị độc lập.
Người đọc Khuyến học ở Việt Nam năm 2026 đứng ở một vị trí kì lạ: đủ sáng suốt để nhìn ra vấn đề, đủ hiểu biết để hình dung giải pháp, và hoàn toàn bất lực trước việc thi hành bất cứ điều gì. Sự bất lực ấy không phải là lười biếng. Nó là sản phẩm của chính cái cấu trúc mà bài viết này đã mô tả: một hệ thống mà trong đó hiểu biết không quy đổi được thành hành động, và hành động không quy đổi được thành thay đổi.
Có lẽ đây mới là lý do Khuyến học được đọc đi đọc lại ở Việt Nam với nhiều cảm xúc đến vậy. Không phải vì người đọc chưa biết những điều Fukuzawa nói. Mà vì họ biết rõ, biết từ lâu, và cái sự biết ấy không dẫn đến đâu cả. Cuốn sách trở thành tấm gương phản chiếu không phải sự ngu dốt của dân tộc, mà sự bế tắc của dân tộc. Người ta đọc và thở dài không phải vì xấu hổ. Người ta thở dài vì nhận ra khoảng cách giữa hiểu và làm, ở xứ sở này, là khoảng cách không sách nào lấp nổi.
Một dân tộc đạt điểm PISA cao hơn cả những quốc gia giàu có bậc nhất thế giới không cần thêm một bài giảng nào về tầm quan trọng của sự học. Dân tộc ấy cần một thể chế xứng đáng với sự học mà nó đã có sẵn. Và cho đến khi thể chế ấy xuất hiện, mỗi cuốn Khuyến học được in thêm chỉ là thêm một lời nhắc rằng nhiên liệu vẫn còn đó, nhưng vẫn không biết tìm động cơ ở đâu.



Cám ơn tác giả. Đây là một trong những bài viết hay nhất mình được đọc trên Substack trong vòng vài năm gần đây. Nhân nói về câu chuyện hệ thống, thể chế sử dụng nhân tài, mình xin góp vui một câu chuyện nhỏ.
Ngày xưa chung lớp mình có một bạn học tệ hết chỗ nói, hay dân dã thì gọi là “dốt”. Tuy nhiên, nhờ có phụ huynh làm quan, nên bạn vẫn lên lớp được, và lại được nhận trường chuyên duy nhất của tỉnh. Bằng một cách thần kì nào đó, bạn vẫn tốt nghiệp THPT được.
Bẵng đi một thời gian dài, trong lớp mn không biết bạn có đi học ĐH hay không hoặc học trường nào, nhưng sau tầm hơn chục năm sau khi ra trường, giờ nghe nói bạn làm Phó GĐ Sở Tài chính. Để mang tính khách quan, thì mình nghĩ có thể có 2 nguyên nhân:
- Đột nhiên lúc học ĐH bạn trở nên thông minh lạ thường, năng lực bộc phát rực rỡ.
- Hoặc là, hệ thống tuyển dụng công chức nhìn thấy năng lực đặc biệt gì khác ở bạn, tất nhiên không phải là “trí tuệ”.
Cho nên, một khi trí tuệ không được đánh giá, và đối xử một cách công bằng, thì cả hệ thống sẽ quy tụ và hút vào những trí tuệ mới ngang tầm với những người đang ở trong đó.
Do vậy, để thay đổi và tiến bộ như cách Nhật và Hàn làm thì quả khó, rất khó!
Mỗi kì thi đại học thì thể lệ lại thay đổi, làm cha mẹ không biết định hướng cho con cái kiểu gì...