Bài viết đọc rất đanh thép và hùng hồn. Như thường lệ, các bài viết của M.Q.Doan luôn làm tôi ấn tượng về văn phong và những chi tiết lịch sử thú vị. Tôi lấy làm thú với luận điểm:
(1) Nghiện không chỉ là tìm kiếm khoái cảm. Nó là một lối tắt đến cái tuyệt đối, một thứ gì đó to lớn, vượt lên trên tất cả mà các nhà tu hành cũng đang tìm kiếm.
Tuy nhiên bước nhảy sang:
(2) Nghiện là ngõ ra của khả năng thờ phụng còn sót lại ở những cá nhân sống trong một xã hội mà chùa chiền, miếu đền đã bị san phẳng.
làm tôi băn khoăn.
Nếu đúng là con người đều mang sẵn nhu cầu thờ phụng, vậy tại sao lại có những người không có đời sống tôn giáo, cũng không rơi vào bất kỳ dạng nghiện đáng kể nào?
Nếu trả lời rằng thực ra ai cũng thờ phụng một điều gì đó — người nghiện thờ ma túy, người say thờ rượu, người duy lý thờ khoa học, người nghệ sĩ thờ cái đẹp... — thì khái niệm thờ phụng dường như trở nên quá rộng và mất đi sức phân biệt. Khi đó, điều gì quyết định một người sẽ hướng nhu cầu ấy vào ma túy thay vì khoa học, văn chương hay một lý tưởng khác? Hay nói cách khác, cơ chế nào giải thích sự khác biệt đó?
Cảm ơn bạn đã đưa ra một điểm đáng để bàn luận thêm, xin chia sẻ một số suy nghĩ của mình thế này. Cái băn khoăn của bạn ở dạng mạnh nhất thì không nằm ở những người vừa không tôn giáo vừa không nghiện; phản ví dụ thì khung nào cũng gánh được. Vấn đề là nước chống đỡ dễ dãi nhất, rằng ai cũng thờ một thứ gì đó, sẽ giết chính khái niệm nó định cứu: một chữ thờ phượng ôm trọn cả kẻ chích lẫn người chơi lan thì mất sức phân biệt, và cái gì giải thích được tất cả thì cuối cùng chẳng giải thích được gì.
Bài viết chưa bao giờ tuyên một tất định luật cá nhân, rằng mỗi người rồi sẽ quỳ trước bàn thờ hoặc bàn đèn. Mệnh đề của nó nằm ở tầng quần thể: một trật tự đã san phẳng đền đài thì sẽ tiếp tục đẻ ra những kẻ nghiện, một cách đều đặn.
"Phần còn lại của chúng ta chỉ khác hắn ở liều lượng, và ở chỗ may mắn chọn nhầm một thứ giết người chậm hơn". Người vừa không tôn giáo vừa không nghiện chưa hề là khoảng trống: mình gợi ý rằng hắn là một danh mục phân tán của những liều nhỏ. Nhưng phải nói rằng lối dụng từ "tín đồ cuối cùng" quả thật có mời gọi cách đọc phổ quát ấy; và câu hỏi về cơ chế thì bài cũng chủ ý để ngỏ hơn là đưa ra một phán quyết chắc nịch.
Nhưng thờ phượng theo nghĩa bài dùng, có ranh giới, thể hiện qua ba dấu hiệu cấu trúc. (1) Một đối tượng duy nhất cấp trật tự cho mọi giờ trong ngày. (2) Sự hiến mình không giữ lại gì: sức khoẻ, danh dự, gia đình, tự do. (3) Và tính tối hậu không mặc cả: đối tượng ấy là thước đo mọi giá trị khác, chưa từng bị đem đổi. Soi vào các ca bạn kể: người duy lý không thờ khoa học; anh ta làm khoa học từ chín giờ đến sáu giờ rồi về ăn tối, và sẵn sàng đổi đề tài lấy một suất biên chế. Đa số người hiện đại khi đo bằng thước này, không thờ gì hết. Và đó lại đúng là luận điểm của bài: tín đồ cuối cùng chỉ có nghĩa nếu sự thờ phượng đã trở nên khan hiếm. Cơn khát thì phổ quát; sự thờ phượng thì hiếm; và biến số không phải sự có mặt, mà là độ tụ của cơn khát ấy: phân tán vào trăm liều nhỏ của sự khuây lãng mà Pascal đã gọi tên, hay hội tụ vào một đối tượng duy nhất.
Còn cái gì định tuyến cơn khát vào mũi kim thay vì vào văn chương, mình chỉ có thể đưa ra giả thuyết. Đầu tiên là có nhiều loại người: James, vốn có mặt trong bài, chia nhân loại thành kẻ sinh một lần và kẻ phải sinh lại; cú kéo về cái tuyệt đối được cảm nhận không đồng đều, và tâm hồn khoẻ mạnh sống trọn đời bằng cái hữu hạn mà không nghe thấy vết nứt. Tiếp đến là yếu tố rèn dũa: yêu được đối tượng nào là chuyện phải học; khoa học, văn chương, một lý tưởng đều là những cánh cửa đòi hỏi tập sự lâu dài; cái tuyệt đối hoá học là thứ duy nhất bán qua quầy mà không đòi học nghề. Và cuối cùng là giá cả và sự sẵn có, là phần chính trị đã nằm sẵn trong bài với Doumer.
Cùng một cú kéo, rơi xuống những nền đất khác nhau: với người được rèn, nó thành ơn gọi; với kẻ bị tước sạch, nó quay về với mũi kim.
Nhưng giả thuyết ấy để lại một câu hỏi. Người không thờ gì, không nghiện gì, cũng không thấy thiếu gì đang mỗi năm một đông. Vậy họ là phản chứng của cơn khát, hay là những bệnh nhân được quản lý khéo nhất của thời đại, được chia liều nhỏ và đều đến mức chưa bao giờ phải biết mình đangtiêu thụ nó? Muốn phân biệt, có lẽ phải nhờ một thí nghiệm: điều gì xảy ra khi sự khuây lãng bị rút đi, trong những tháng cách ly, hay những đêm đầu tiên của một người vừa về hưu. Mình chưa có câu trả lời, và mình ngờ nó cần trọn một bài riêng.
Cảm ơn tác giả đã dành thời gian trả lời rất chi tiết.
Tôi thích cách bạn làm rõ lại khái niệm thờ phượng và phân biệt mệnh đề ở cấp cá nhân với cấp quần thể. Nó giải tỏa được phần lớn băn khoăn ban đầu của tôi, đồng thời cũng mở ra thêm nhiều hướng để suy nghĩ.
Bài viết đọc rất đanh thép và hùng hồn. Như thường lệ, các bài viết của M.Q.Doan luôn làm tôi ấn tượng về văn phong và những chi tiết lịch sử thú vị. Tôi lấy làm thú với luận điểm:
(1) Nghiện không chỉ là tìm kiếm khoái cảm. Nó là một lối tắt đến cái tuyệt đối, một thứ gì đó to lớn, vượt lên trên tất cả mà các nhà tu hành cũng đang tìm kiếm.
Tuy nhiên bước nhảy sang:
(2) Nghiện là ngõ ra của khả năng thờ phụng còn sót lại ở những cá nhân sống trong một xã hội mà chùa chiền, miếu đền đã bị san phẳng.
làm tôi băn khoăn.
Nếu đúng là con người đều mang sẵn nhu cầu thờ phụng, vậy tại sao lại có những người không có đời sống tôn giáo, cũng không rơi vào bất kỳ dạng nghiện đáng kể nào?
Nếu trả lời rằng thực ra ai cũng thờ phụng một điều gì đó — người nghiện thờ ma túy, người say thờ rượu, người duy lý thờ khoa học, người nghệ sĩ thờ cái đẹp... — thì khái niệm thờ phụng dường như trở nên quá rộng và mất đi sức phân biệt. Khi đó, điều gì quyết định một người sẽ hướng nhu cầu ấy vào ma túy thay vì khoa học, văn chương hay một lý tưởng khác? Hay nói cách khác, cơ chế nào giải thích sự khác biệt đó?
Cảm ơn bạn đã đưa ra một điểm đáng để bàn luận thêm, xin chia sẻ một số suy nghĩ của mình thế này. Cái băn khoăn của bạn ở dạng mạnh nhất thì không nằm ở những người vừa không tôn giáo vừa không nghiện; phản ví dụ thì khung nào cũng gánh được. Vấn đề là nước chống đỡ dễ dãi nhất, rằng ai cũng thờ một thứ gì đó, sẽ giết chính khái niệm nó định cứu: một chữ thờ phượng ôm trọn cả kẻ chích lẫn người chơi lan thì mất sức phân biệt, và cái gì giải thích được tất cả thì cuối cùng chẳng giải thích được gì.
Bài viết chưa bao giờ tuyên một tất định luật cá nhân, rằng mỗi người rồi sẽ quỳ trước bàn thờ hoặc bàn đèn. Mệnh đề của nó nằm ở tầng quần thể: một trật tự đã san phẳng đền đài thì sẽ tiếp tục đẻ ra những kẻ nghiện, một cách đều đặn.
"Phần còn lại của chúng ta chỉ khác hắn ở liều lượng, và ở chỗ may mắn chọn nhầm một thứ giết người chậm hơn". Người vừa không tôn giáo vừa không nghiện chưa hề là khoảng trống: mình gợi ý rằng hắn là một danh mục phân tán của những liều nhỏ. Nhưng phải nói rằng lối dụng từ "tín đồ cuối cùng" quả thật có mời gọi cách đọc phổ quát ấy; và câu hỏi về cơ chế thì bài cũng chủ ý để ngỏ hơn là đưa ra một phán quyết chắc nịch.
Nhưng thờ phượng theo nghĩa bài dùng, có ranh giới, thể hiện qua ba dấu hiệu cấu trúc. (1) Một đối tượng duy nhất cấp trật tự cho mọi giờ trong ngày. (2) Sự hiến mình không giữ lại gì: sức khoẻ, danh dự, gia đình, tự do. (3) Và tính tối hậu không mặc cả: đối tượng ấy là thước đo mọi giá trị khác, chưa từng bị đem đổi. Soi vào các ca bạn kể: người duy lý không thờ khoa học; anh ta làm khoa học từ chín giờ đến sáu giờ rồi về ăn tối, và sẵn sàng đổi đề tài lấy một suất biên chế. Đa số người hiện đại khi đo bằng thước này, không thờ gì hết. Và đó lại đúng là luận điểm của bài: tín đồ cuối cùng chỉ có nghĩa nếu sự thờ phượng đã trở nên khan hiếm. Cơn khát thì phổ quát; sự thờ phượng thì hiếm; và biến số không phải sự có mặt, mà là độ tụ của cơn khát ấy: phân tán vào trăm liều nhỏ của sự khuây lãng mà Pascal đã gọi tên, hay hội tụ vào một đối tượng duy nhất.
Còn cái gì định tuyến cơn khát vào mũi kim thay vì vào văn chương, mình chỉ có thể đưa ra giả thuyết. Đầu tiên là có nhiều loại người: James, vốn có mặt trong bài, chia nhân loại thành kẻ sinh một lần và kẻ phải sinh lại; cú kéo về cái tuyệt đối được cảm nhận không đồng đều, và tâm hồn khoẻ mạnh sống trọn đời bằng cái hữu hạn mà không nghe thấy vết nứt. Tiếp đến là yếu tố rèn dũa: yêu được đối tượng nào là chuyện phải học; khoa học, văn chương, một lý tưởng đều là những cánh cửa đòi hỏi tập sự lâu dài; cái tuyệt đối hoá học là thứ duy nhất bán qua quầy mà không đòi học nghề. Và cuối cùng là giá cả và sự sẵn có, là phần chính trị đã nằm sẵn trong bài với Doumer.
Cùng một cú kéo, rơi xuống những nền đất khác nhau: với người được rèn, nó thành ơn gọi; với kẻ bị tước sạch, nó quay về với mũi kim.
Nhưng giả thuyết ấy để lại một câu hỏi. Người không thờ gì, không nghiện gì, cũng không thấy thiếu gì đang mỗi năm một đông. Vậy họ là phản chứng của cơn khát, hay là những bệnh nhân được quản lý khéo nhất của thời đại, được chia liều nhỏ và đều đến mức chưa bao giờ phải biết mình đangtiêu thụ nó? Muốn phân biệt, có lẽ phải nhờ một thí nghiệm: điều gì xảy ra khi sự khuây lãng bị rút đi, trong những tháng cách ly, hay những đêm đầu tiên của một người vừa về hưu. Mình chưa có câu trả lời, và mình ngờ nó cần trọn một bài riêng.
Cảm ơn bạn đã đọc bài.
Cảm ơn tác giả đã dành thời gian trả lời rất chi tiết.
Tôi thích cách bạn làm rõ lại khái niệm thờ phượng và phân biệt mệnh đề ở cấp cá nhân với cấp quần thể. Nó giải tỏa được phần lớn băn khoăn ban đầu của tôi, đồng thời cũng mở ra thêm nhiều hướng để suy nghĩ.
Đón đọc các bài viết tiếp theo của bạn.