Régie
Về cơn nghiện như một thứ thờ phượng bị bắn lệch, và về nhà nước đã đánh thuế lạc thú của kẻ nghiện rồi đánh thuế cả sự sám hối của hắn.
Năm 1902, khi rời Đông Dương về Pháp, Paul Doumer đã ghi lại một con số với thái độ của người quản gia mãn nguyện sau khi đã làm tốt phận sự: trong bốn năm tại nhiệm, ông đã nâng doanh thu á phiện lên thêm một nửa. Con số ấy nằm trong hồi ký của chính ông, được kê ra như một thành tích hành chính, bên cạnh những cây cầu và những tuyến đường sắt. Á phiện khi đó gánh hơn một phần ba toàn bộ ngân khố thuộc địa; và để nắm chắc rằng nguồn thu ấy không cạn, Doumer đã cho nhập á phiện Vân Nam giá rẻ, để người công nhân nghèo không kham nổi hàng Ấn Độ đắt tiền cũng có thể trở thành khách quen. Cơn nghiện được chủ ý hạ giá, để nó với được lan xuống tận đáy bậc thang giai cấp.
Khi đọc về thời thuộc địa, người ta thường cho rằng nhà nước Pháp ở Đông Dương nhắm mắt làm ngơ trước á phiện. Nó không đơn giản như vậy, và nó cũng không miễn cưỡng dung dưỡng một thói xấu có sẵn để tiện bề thu thuế. Nó chế tạo. Năm 1881, Thống đốc Le Myre de Vilers bãi bỏ lối khoán thầu cho thương nhân, lập một sở độc quyền do nhà nước trực tiếp nắm, một Régie1, và dựng ngay tại Sài Gòn một toà nhà mang một cái tên rất thẳng thắn: Manufacture d’Opium, Xưởng Á phiện. Ở đó, nhựa thô từ Ấn Độ và Vân Nam được nấu, lọc, cô lại thành thứ thuốc hút sẵn sàng cho bàn đèn. Thành phẩm được đóng trong những hộp thiếc và hộp đồng dập sẵn trọng lượng, năm, mười, hai mươi, bốn mươi, hay một trăm gam, mỗi hộp đều được đóng một con dấu nhà nước. Giá bán được ấn định bằng nghị định, chưa đến lượt thị trường.
Nghị định.
Một sắc thuốc gây nghiện, được một bộ máy quốc gia sản xuất theo quy trình công nghiệp, đóng gói theo định lượng chuẩn, dập tem chính hãng, và niêm yết giá bằng văn bản pháp quy hệt như giá muối hay tem thư. Đến năm 1918, mạng lưới phân phối của sản phẩm này gồm hơn một ngàn rưỡi tiệm hút và hơn ba ngàn cửa hàng bán lẻ trải khắp xứ. Một chợ đen được chính quyền nhắm mắt dung dưỡng thì không trông như thế. Cái trông như thế là một ngành kinh tế quốc doanh, có kế toán, có chỉ tiêu, có thương hiệu.
Khoản lãi mà nó sinh ra đã được tiêu vào những thứ rất đỗi đường hoàng. Chính nhờ độc quyền á phiện, muối và rượu cộng lại gánh ngót nửa ngân sách mà Doumer mới vay nổi hai trăm triệu franc để hiện đại hoá thuộc địa: bệnh viện, trường học, và cả tuyến đường sắt Hà Nội đi Hải Phòng. Trong số những công trình ấy có một cây cầu sắt bắc qua sông Hồng, tốn chừng sáu triệu franc, và mang chính tên ông, cầu Doumer. Người Hà Nội hôm nay gọi nó là cầu Long Biên và đi qua nó mỗi ngày, phần lớn không biết rằng cái nhịp thép họ đặt chân lên đã được trả tiền, một phần, bằng đúng cái việc tăng gấp rưỡi doanh số thuốc phiện của xứ này.
Người ta dễ đọc những trang sử này như một chương trong câu chuyện quen thuộc về sự bóc lột của thực dân: kẻ xâm lược đầu độc dân bản xứ để vơ vét, lại thêm một tội ác cộng thêm vào danh sách tội ác. Diễn giải như thế không hoàn toàn sai, nhưng nó làm rơi rụng đi nhiều chi tiết; bởi nếu chỉ dừng ở đó, ta bỏ lỡ điều thực sự đáng kinh ngạc trong những con số của Doumer. Điều đáng kinh ngạc ấy nằm ở bản chất của thứ đang được mua bán, chứ không ở lòng tham của kẻ bán nó.
Tước khỏi cái khung đạo đức quen thuộc, cấu trúc của sự việc hiện ra giản dị. Ở đây có một nhà nước. Nhà nước ấy dựng một nhà máy. Nhà máy ấy sản xuất ra một thứ mà, đối với kẻ tiêu thụ nó, không phải một mặt hàng tiêu dùng như xà phòng hay diêm, mà là một bí tích: một khe cửa nhỏ qua đó hắn rời khỏi thế giới lạnh lẽo của những sự kiện trần trụi để bước vào một trạng thái mà ngôn ngữ tôn giáo, chứ không phải y khoa, có thể mô tả đúng nhất. Nhà nước đóng dấu lên bí tích ấy, rồi định lượng nó theo gam, rồi niêm yết giá nó bằng luật pháp, rồi cân đối quốc khố trên doanh số của nó, và lấy lợi nhuận xây những cây cầu mang tên mình.
Nói cách khác, ở Việt Nam, nghiện chưa bao giờ trước hết là một câu chuyện y tế hay đạo đức; Nó là một câu chuyện tài khoá và chính trị. Diễn ngôn đang thống trị hôm nay, giải thích cơn nghiện bằng dopamine, bằng thụ thể thần kinh, bằng tổn thương tâm lý và nỗi cô đơn của con người hiện đại, cái diễn ngôn ấy khởi đầu câu chuyện ở chỗ não bộ một cá nhân lệch lạc. Nhưng ở xứ này, câu chuyện bắt đầu sớm hơn thế nhiều, và ở một nơi khác hẳn: trong cuốn sổ cái. Trước khi có người nghiện, đã có người bán. Và người bán, ngay từ đầu, là nhà nước.
Nhà nước không dung túng cơn nghiện. Nó sản xuất cơn nghiện, đóng dấu, và định giá bằng luật pháp.
Nhưng sổ cái, dù chi tiết đến đâu, cũng chỉ ghi được một nửa câu chuyện. Nó nói cho ta biết nhà nước đã lấy đi thứ gì. Nó hoàn toàn câm lặng về phía bên kia của cuộc giao dịch. Nó không có một cột nào, một dòng nào, ghi lại điều mà kẻ ngồi xuống bên bàn đèn kia đang thực sự với tới khi hắn kéo hơi thuốc đầu tiên. Con số đo được cái nhà nước thu về. Nó không đo được cái người hút đánh đổi cả đời mình để chạm vào.
Diễn ngôn đang thống trị về cơn nghiện có lý của nó. Người ta thường nói đó là do dopamine, là mạch tưởng thưởng bị bắt cóc, là những thụ thể đã quen mức kích thích mà đời thường không còn cung cấp nổi. Ngoài ra, đằng sau mỗi cơn nghiện là một vết thương, một sang chấn chưa lành, một nỗi cô đơn lớn đến mức trốn chạy vào cơn say một chất còn dễ thở hơn là ở lại với chính mình. Những điều ấy đều đúng; không những đúng, chúng còn nhân đạo. Cái mô hình gọi nghiện là bệnh lý đã làm một việc tử tế thật sự trong lịch sử: nó dìu kẻ nghiện khỏi vành móng ngựa và đặt hắn lên giường bệnh, nó tháo cái nhãn đồi bại và thay bằng một chẩn đoán, nó mở đường cho việc điều trị bằng methadone thay cho còng số tám. Và nó đứng trên nền thần kinh học có thật. Ai đã thấy một người lên cơn vật thuốc thì sẽ không dám nói nghiện chỉ là yếu đuối đạo đức.
Nhưng tất cả chúng đều chỉ mô tả cơ chế: chuỗi phản ứng và sự phụ thuộc được rèn ra sao trong não, chuyện thụ thể nhờn dần, rồi ngưỡng kháng thuốc dâng lên. Chúng trả lời câu hỏi làm thế nào một con người trở thành kẻ nghiện. Không một khung nào trong số đó trả lời câu hỏi khác, câu hỏi mà thân thể bên bàn đèn đang gào lên mà không thành lời: hắn đang với tới cái gì. Cơ chế nghiện giải thích được con đường, và nó câm lặng trước cái đích đến.
Augustine, chưa từng biết dopamine là gì, trong Tự thuật, đã ghi lại cái khoảnh khắc ý chí của ông tự trói lấy mình. Ông không nói bằng ngôn ngữ của tội lỗi trước, mà bằng ngôn ngữ của một thợ rèn: ý chí của tôi bị kẻ thù nắm giữ, và từ đó hắn rèn cho tôi một sợi xích trói chặt tôi. Bởi từ một ý chí lệch lạc mà dục vọng sinh ra; phục dịch dục vọng thì thành thói quen; không kháng cự thói quen thì thành tất yếu. Bốn mắt xích, theo đúng thứ tự là toàn bộ luận điểm: voluntas, libido, consuetudo, necessitas. Ý chí lệch, rồi dục vọng, rồi thói quen, rồi sự tất yếu. Đây là hiện tượng học của thói quen hoá thành định mệnh, viết ra trước khoa học thần kinh mười sáu thế kỷ, và viết chính xác hơn, vì nó không bỏ sót cái đầu chuỗi. Cái chuỗi không bắt đầu ở một thụ thể. Nó bắt đầu ở một ý chí đã quay sai hướng. Và đến mắt cuối, necessitas, kẻ nghiện đã đánh mất chính cái năng lực đã bắt đầu sợi xích: hắn không còn muốn sử đụng theo nghĩa có thể đưa ra lựa chọn, hắn bị buộc phải. Mô hình bệnh nhìn vào mắt xích cuối ấy, thấy sự cưỡng bách, và kết luận rằng toàn bộ chuyện là một căn bệnh ập tới từ bên ngoài như một cơn cảm cúm. Augustine đứng ở đầu kia của sợi xích và thấy điều mô hình bệnh không thấy: rằng mắt cuối được rèn từ mắt đầu, rằng cái tất yếu này có một bối cảnh đằng trước, và cái tiền sử ấy mang tên một ham muốn.
Đáng kinh ngạc là chính Augustine cũng gọi nó là bệnh. Ông viết rằng ông sợ Chúa nghe lời cầu của ông quá sớm, chữa ông quá sớm khỏi morbo concupiscentiae, căn bệnh dục vọng. Nhưng hãy để ý ông nói gì tiếp theo: quem malebam expleri quam exstingui, căn bệnh mà ông muốn được thoả hơn là bị dập tắt. Một bệnh nhân thật không thương lượng với mầm bệnh. Còn đây là người đứng giữa cơn bệnh mà mặc cả với chính nó, xin được chữa nhưng xin hoãn ngày chữa, vì một phần trong ông vẫn còn thờ cái đang giết mình. Vậy thì vâng, hãy nhận lấy chữ bệnh mà mô hình y khoa đưa ra; nhưng đây là căn bệnh mà ý chí là kẻ đồng loã, căn bệnh của hướng ham muốn chứ không riêng gì của hoá chất. Augustine đã tiên liệu mô hình bệnh và đã vượt qua nó trong cùng một câu.
Trong lời cầu nguyện của ông còn để lại một dòng thế này: da mihi castitatem et continentiam, sed noli modo. Xin ban cho con sự khiết tịnh và tiết độ, nhưng chưa phải bây giờ. Người ta vẫn đọc nó như một câu đùa của thánh nhân thời trẻ. Nghĩ cho kĩ lại thì đó là cấu trúc nội tâm của mọi kẻ nghiện, phát biểu trọn vẹn nhất từng có. Cầu được chữa, nhưng xin hoãn ngày được chữa. Muốn dừng, và muốn dừng vào ngày mai. Cái mà dopamine-luận không bao giờ chạm tới là kẻ nghiện không phải một nạn nhân thụ động của một mạch thần kinh trục trặc. Hắn là một tác nhân bị chẻ làm đôi, một ý chí ra lệnh cho chính nó mà không được tuân lệnh, một nửa van nài được giải thoát và nửa còn lại cầu cho sự giải thoát đừng tới sớm.
Nhưng giải thoát khỏi cái gì, và để với tới cái gì? Một nhà tâm lý học thực nghiệm, người sau Augustine mười lăm thế kỷ và không tin vào phép lạ nào, đã trả lời gần hơn ai hết. William James, viết về cơn say chứ không về ơn cứu độ, thừa nhận điều mà cái tỉnh táo không muốn thừa nhận: sobriety diminishes, discriminates, and says no; drunkenness expands, unites, and says yes. Tỉnh táo thì thu vào, phân biệt, và nói không; cơn say thì giãn nở, hợp nhất, và nói có. Rồi đến một câu đáng chú ý: cơn say brings its votary from the chill periphery of things to the radiant core. It makes him for the moment one with truth. Nó đưa kẻ sùng bái của nó từ cái rìa lạnh lẽo của vạn vật về cái lõi rực sáng, và làm cho hắn, trong một khoảnh khắc, hợp nhất với chân lý. Từ ông chọn là votary, kẻ sùng bái, kẻ dâng lễ. Cái mà chất gây nghiện hứa hẹn, theo lời một người duy lý đến tận xương, là cái lõi rực sáng, là sự tan biến của cái tôi vào một cái lớn hơn, là tiếng có mà cả đời tỉnh táo bủn xỉn không cho ta cất lên.
Kẻ ngồi bên bàn đèn không với tới một khiếm khuyết của ham muốn thấp, một cái thèm tầm thường trục trặc về hoá học. Hắn với tới cái cao nhất con người có thể với: sự thăng hoa khỏi bản thể, sự hợp nhất, cái tuyệt đối. Cơn nghiện là cú bắn của ham muốn cao nhất ấy, bắn trúng đích nhưng định tuyến qua chất hóa học. Kẻ nghiện khát đúng cái mà người tu hành khao khát, cái lõi rực sáng, cái nên một với chân lý; hắn chỉ đi đường tắt, qua một cánh cửa hoá học mở ra trong vài mươi phút rồi đóng sập lại, để lại hắn ở cái rìa lạnh còn hơn trước.
Mà sợi xích vẫn là thật. Necessitas là một chế độ nô lệ có thật, không phải một ẩn dụ đẹp; mắt xích cuối của chuỗi Augustine không lãng mạn hơn một chiếc còng. Kẻ với tới lõi rực sáng qua mũi kim không trở thành thánh nhân vì đã chạm đến; hắn trở thành kẻ bị trói, và cái hắn với tới mỗi lần lùi xa thêm một bước. Đây là chẩn đoán còn buồn hơn cả mô hình bệnh, vì cái hỏng ở kẻ nghiện nằm ở chính phần cao quý nhất trong hắn, cái phần biết khát tuyệt đối, đã bị lầm lạc và bị bán lại cho hắn dưới dạng một liều.
Và nếu vậy thì câu hỏi cấp thiết không còn là câu mà mọi phòng khám và mọi trại cai nghiện đang đặt ra. Không phải: não kẻ nghiện hỏng ở đâu, và làm sao điều hoà lại cho đúng. Nếu cú với chạm tới cái tuyệt đối là cú với tới có thật, in sâu trong cấu trúc của con người, thì tại sao nó buộc phải đi qua một chất. Cái tuyệt đối đã đi đâu. Ai đã phá những con đường chính đáng dẫn tới lõi rực sáng, để cho cánh cửa hoá học ở số 74 Hai Bà Trưng trở thành cánh cửa duy nhất còn mở.
Năm 2011, Kent Dunnington, một triết gia làm việc trong truyền thống đạo đức học cổ điển, giới thiệu Addiction and Virtue: Beyond the Models of Disease and Choice. Ngay từ tựa đề đã mang đến hai mô hình sử dụng để chẩn đoán hành vi nghiện, nhưng ông không viết để ca ngợi chúng. Cả hai mô hình đang chia nhau toàn bộ vốn ngôn từ đương đại về cơn nghiện, và cả hai đều hỏng từ gốc. Mô hình bệnh tả đúng cơ chế mà câm trước đối tượng, như đã thấy; ngay Augustine cũng gọi cơn khát của mình là morbo, một căn bệnh, nhưng là căn bệnh mà ý chí đồng loã. Còn mô hình kia, mô hình lựa chọn, mô hình đạo đức, mô hình đứng sau mọi bản án và mọi lời mắng nhiếc kẻ nghiện là đứa vô kỷ luật, thì gãy ở một chỗ giản dị đến mức ai từng sống cạnh một người nghiện đều biết. Kẻ nghiện muốn dừng. Hắn thề thể thốt sẽ dừng, khóc lóc, hắn dừng được ba ngày rồi quỳ xuống đầu hàng. Một sinh thể đang tự do lựa chọn thì không hành xử như thế. Thuyết duy ý chí chỉ cứu được khả năng phục hồi bằng cách chối bỏ chính cái hiện tượng nó định giải thích: nó bảo kẻ nghiện chỉ cần quyết tâm hơn, tức là nó bảo cơn nghiện không tồn tại.
Vậy thì giữa hai bờ ấy còn lại gì? Dunnington chỉ về một phạm trù mà cả hai bên đã quên, một phạm trù mà Aristotle và Aquinas từng đặt ở trung tâm khoa học về con người và thời hiện đại đã đánh rơi: thói quen, hexis, cái tập tính đã ăn vào xương tủy đến mức thành bản tính thứ hai. Thói quen nằm đúng vào khoảng đất không người giữa tự nguyện và không. Nó do lựa chọn hình thành, từng lần một, từng đêm một; rồi đến một lúc nó thôi cần lựa chọn, nó tự vận hành, vì nó là con người ấy. Đây chính xác là sợi xích của Augustine đọc lại bằng ngữ pháp Hy Lạp. Ý chí lệch rèn nên dục vọng, dục vọng lặp lại thành thói quen, thói quen không bị kháng cự thì hoá tất yếu. Kẻ nghiện không bị một con virus bắt cóc, cũng không đang sáng suốt cầm vô lăng. Hắn là tổng số những gì hắn đã lặp đi lặp lại cho tới khi sự lặp lại trở thành chính hắn.
Nếu ta dừng ở đó thì Dunnington mới chỉ là một nhà chú giải Aristotle giỏi. Phân tích của ông đi xa hơn. Ông hỏi tiếp: tại sao lại là thời đại này. Tại sao cơn nghiện, như một dạng tồn tại, lại bùng lên đúng vào thế kỷ đã tự hào nhất về việc giải phóng con người khỏi mọi ràng buộc. Theo ông, việc nghiện thịnh hành tỉ lệ thuận với việc một nền văn hoá đánh mất telos của nó, mất cái đích tối hậu mà mọi hành vi từng quy hướng về. Cơn nghiện cấp cho một đời sống đã tan thành mảnh vụn một tiêu điểm thống nhất, một thứ để mọi giờ trong ngày xoay quanh, một trật tự nội tâm ở nơi không còn trật tự nào khác. Và từ đó Dunnington tiếp tục một cú bước quan trọng: nghiện, ông viết, là một hình thức thờ phượng giả, một counterfeit form of worship, đứng gần thờ ngẫu tượng hơn là gần bệnh tật. Chỗ hỏng ở hắn là chính cái phần biết quỳ, cái phần phải thờ một cái gì đó hoặc không sống nổi.
Và từ đó ông dẫn tới một câu khó quên. Kẻ nghiện là nhà tiên tri vô tình của thời đại mình. Hắn không định làm chứng cho điều gì cả; hắn chỉ muốn phê thuốc. Vậy mà chính cái thân tàn ma dại của hắn lại đang phát đi một thông điệp mà cả nền văn minh xung quanh hắn đang giả điếc. Trong một thế giới đã thôi thờ phượng bất cứ thứ gì, đã gọi mọi sự hiến mình trọn vẹn là cuồng tín và mọi cái tuyệt đối là ảo tưởng, kẻ nghiện là người duy nhất còn giữ được năng lực hiến dâng bản mình mà không giữ lại gì. Hắn dâng sức khoẻ, danh dự, gia đình, tự do, sau cùng là mạng sống, cho vị thần của hắn. Năng lực thờ phượng ở hắn còn nguyên vẹn; chỉ có bàn thờ là đã bị dời. Mọi đền đài chính đáng đã đóng cửa, nên hắn hiến mình cho vị thần duy nhất còn bày bán trên kệ. Kẻ nghiện là tín đồ cuối cùng.
Quay cái khung ấy về phía số 74 Hai Bà Trưng, và cái xí nghiệp tài khoá thuộc địa hiện nguyên hình của nó. Régie chưa bao giờ chỉ bán một chất. Nó dựng nên và vận hành một phản Pantheon, một thứ phản giáo hội được nhà nước cấp phép và bao thầu, với đầy đủ phẩm trật của một tôn giáo thật. Bí tích là viên nhựa đen hơ trên ngọn đèn. Phụng vụ là cái nghi thức nằm nghiêng trong hơn ngàn tiệm hút có phép rải khắp Nam Kỳ, mỗi động tác têm tẩu được lặp lại đến mức thiêng liêng hoá. Hàng giáo phẩm là đội ngũ nhân viên thương điếm đeo phù hiệu của Sở. Và thuế thập phân thì chảy thẳng, không qua trung gian, vào quốc khố Đông Dương, hơn một phần ba ngân sách của một năm. Một ngôi đền giả vẫn có thật một nguồn thu.
Một lời giải thích lười biếng có thể chực sẵn ở đây. Lời giải ấy bảo rằng cái chợ búa đã giết cái thiêng liêng; rằng đồng tiền, sự tiện nghi, chủ nghĩa tiêu dùng đã làm rỗng những đền đài cũ và để lại khoảng trống cho thuốc phiện tràn vào. Ở mảnh đất này, trình tự đi ngược lại. Người ra tay trước không phải cái chợ; là nhà nước. Chính cái nhà nước thực dân ấy, rồi cái nhà nước cách mạng kế thừa nó, đã đích thân phá những ngôi đền thật. Đình làng bị tịch thu, ruộng hương hoả của dòng họ bị tái phân phối, hội đồng kỳ mục bị xoá, chùa bị trưng dụng, các giáo hội bị bóp nghẹt hoặc quốc doanh hoá, cái mạng lưới chằng chịt những bổn phận và những vị thần địa phương từng giữ một con người vào trong một trật tự lớn hơn nó đã bị tháo dỡ một cách có hệ thống. Việc tháo dỡ ấy diễn ra đồng thời với, và ở thuộc địa thì diễn ra trước, việc dựng lên phản đền và thu thuế trên nó.
Một dân tộc bị tước hết mọi bàn thờ chính đáng mà cơn khát thờ phượng vẫn còn nguyên trong ngực là một dân tộc đã bị đẩy tới cửa hàng hoá học và bị bỏ lại đó. Và nhà nước, kẻ vừa khoá mọi cánh cửa kia vừa giữ chìa khoá cánh cửa này, biết rất rõ con chiên của nó đang quỳ ở đâu.
Có điều, một khi đã gọi kẻ nghiện là tín đồ, thì cách nhà nước đối xử với hắn bỗng đòi hỏi một cái tên khác. Nếu hắn là người đang với tay về phía cái tuyệt đối qua con đường duy nhất còn để mở cho hắn, thì việc gom hắn lại, định danh những kẻ như hắn dưới chữ tệ nạn, còng tay và vắt kiệt lao động của hắn, không thể nào còn được gọi là sự chăm sóc. Cũng chính cái nhà nước từng đứng quầy bán cho hắn bí tích, giờ đây dựng vành móng ngựa để xử hắn vì đã mua. Nó từng là kẻ buôn. Còn nó đã trở thành cái gì sau đó, thì là một câu chuyện có sổ sách hẳn hoi.
Cuốn sổ ấy bắt đầu ở số 74 Hai Bà Trưng. Toà nhà đã sống trọn tiểu sử của nó theo một trình tự khó tin. Lò luyện á phiện của Sở Độc quyền. Rồi, khi cái xưởng đóng cửa, một khu đèn đỏ mọc lên quanh nó, như thể địa chỉ ấy không biết làm gì khác ngoài việc tiếp tục trích xuất giá trị từ những cơ thể ham muốn. Rồi năm 1975, khi chế độ đổi chủ, ngôi nhà của kẻ buôn á phiện cũ được phân cho cán bộ ngành Hải quan vào ở. Chính bộ máy thu thuế của chế độ mới đã dọn vào sống trong căn nhà của kẻ thu thuế cũ, cùng một địa chỉ, và gần như cùng một nghề: đứng ở cửa khẩu của ham muốn mà thu phần của mình. Từ giữa thập niên 2000, tầng dưới thành quán rượu vang, và những bông anh túc trên cổng sắt vẫn không ai đọc.
Địa chỉ thì không đổi, nhưng vai diễn của nhà nước trên cái cơ thể nghiện kia thì đã đổi. Nhà nước cách mạng nhận lấy cơn nghiện như nhận một di sản, rồi đổi vai từ kẻ bán sang quan toà. Trong nhiều thập niên, Việt Nam nằm trong nhóm những nước hành quyết nhiều bậc nhất thế giới, và con số chính xác thì không ai ngoài nhà nước được biết, bởi số án tử thi hành mỗi năm là một bí mật quốc gia, được luật xếp vào hàng cơ mật. Năm 2022, riêng số án tử tuyên đã vượt một trăm. Ngưỡng để một bị cáo lọt vào khung hình phạt cao nhất ấy được Bộ luật Hình sự 2015, Điều 251, ghi bằng đơn vị khối lượng, sòng phẳng như một biểu giá: từ một trăm gam heroin hay ma tuý tổng hợp trở lên là đủ điều kiện để toà cân nhắc mức tử hình. Năm 2024, trong một vụ án đường dây hơn nửa tấn, một phiên toà tuyên hai mươi bảy án tử cùng một lúc.
Rồi nhà nước rút khỏi vai đao phủ. Ngày một tháng Bảy năm 2025, sửa đổi Bộ luật Hình sự có hiệu lực, bãi bỏ án tử hình cho tám nhóm tội, trong đó có tội vận chuyển và buôn bán trái phép chất ma tuý, thay bằng tù chung thân; những bản án tử đã tuyên trước mốc ấy tự động chuyển xuống chung thân. Trong hiện tại, kẻ buôn ma tuý ở Việt Nam đối diện chung thân, không còn đối diện cái chết. Nhà nước đã đặt thanh gươm xuống. Nó không, dù chỉ một ngày, đặt xuống cái còng và cuốn sổ chấm công. Vai đao phủ thì có thể từ bỏ, vì nó tốn kém và khó coi trước con mắt quốc tế. Vai cai ngục và vai người thu lợi thì không, vì hai vai ấy sinh lời.
Kẻ nghiện ở Việt Nam không thuộc thẩm quyền một cơ quan y tế nào mang tên chữa trị. Hắn được quản bởi Cục Phòng chống tệ nạn xã hội. Chữ tệ nạn nằm ngay trong tên cơ quan, một phạm trù nửa hành chính nửa đạo đức, gói gọn con người hắn vào hàng cùng loại với mại dâm và cờ bạc, và bằng đúng cái danh xưng ấy, dập tắt từ trong trứng cái khả năng đặt ra câu hỏi về điều hắn đang quỳ trước. Một linh hồn đi lạc thì cần một câu hỏi, còn một tệ nạn xã hội thì chỉ cần một biện pháp.
Biện pháp ấy, trong những năm nó vận hành đầy đủ nhất, có một cái tên mà Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đặt cho nó năm 2011: quần đảo cai nghiện2. Trong một báo cáo mang tên The Rehab Archipelago, tổ chức này dựng lại cấu trúc của hệ thống ấy bằng lời khai của chính những người đã trải qua nó, và cấu trúc đó không phải là bệnh viện. Từ năm 2000 đến 2010, hơn ba trăm ngàn người đã đi qua các trại; số trại tăng từ năm mươi sáu vào năm 2000 lên một trăm hai mươi ba vào đầu năm 2011. Bên trong, người ta lao động sáu ngày một tuần: bóc hạt điều, may gia công, làm hàng nhựa và mây tre. Một người bị giam ở Vũ Bản khai rằng anh ta có một hạn ngạch ba mươi ki lô gam hạt điều mỗi ngày và phải làm cho tới khi xong; ai từ chối lao động thì bị đưa vào phòng kỷ luật, và phòng kỷ luật, trong nhiều lời khai, là nơi của tra tấn. Tiền công cho một tháng lao động ấy vào khoảng năm mươi nghìn đồng, chừng ba đô la, sau khi trại đã trừ đi ba phần tư để gọi là tiền ăn. Hạt điều bóc trong trại được một công ty tên Son Long JSC thu mua; doanh nghiệp nhận hàng gia công từ các trại cai nghiện được hưởng miễn và giảm thuế, nghĩa là nhà nước một lần nữa sinh lời trên cơ thể nghiện, lần này không phải bằng cách bán cho nó thứ nó khát, mà bằng cách bán đi sức lực nó đổ ra để chuộc lại cái khát ấy. Số hạt điều đó đi vào chuỗi cung ứng xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu, và báo chí khi ấy gọi chúng bằng một cái tên dính máu: hạt điều máu. Joseph Amon, người của tổ chức này, viết một câu thế này: lao động cưỡng bức không phải là điều trị, và kiếm lời không phải là phục hồi.
Phần còn lại là những con số tự kết liễu lấy nhau. Trong các trại cưỡng bức ấy, tỉ lệ tái nghiện vào khoảng sáu mươi phần trăm. Trong các chương trình duy trì bằng methadone, mô hình y tế mà nhà nước miễn cưỡng cho phép tồn tại bên rìa, tỉ lệ ấy vào khoảng mười ba phần trăm. Một bên thất bại gấp bốn lần rõ hơn bên kia, và một bên là cái bên giam giữ và vắt được lao động. Trong khi đó, cơn nghiện đã thay hình. Hệ thống được dựng lên cho heroin, và cho cái phác đồ methadone thay thế heroin; còn ma tuý tổng hợp, thứ hàng đá đang tràn xuống lớp trẻ, thì không có phác đồ nào cả, vì hàng đá không có chất thay thế để duy trì. Hệ thống tiếp tục giam những con người mà nó không biết phải làm gì, trong những không gian không chứa nổi họ: năm 2016, một trại vỡ tung khi hơn một ngàn tư người phá ra khỏi một cơ sở có sức chứa chừng sáu trăm. Và phản ứng của nhà nước trước toàn bộ chuỗi thất bại ấy, trong Luật Phòng chống ma tuý năm 2021, là kéo dài thời hạn giam giữ bắt buộc: hai mươi bốn tháng cho lần đầu, ba mươi sáu tháng cho lần tái nghiện. Nó không đang sửa mà nó gia hạn cái mô hình thất bại. Một thiết chế chọn nhân đôi đúng cái mô hình hỏng nhất của mình thì thường là vì mô hình ấy đang phục vụ một mục đích khác với mục đích nó tuyên bố, và ở đây mục đích khác ấy không khó đọc: kỷ luật được, và vắt được.
Xuyên qua mọi chế độ, mọi lá cờ, mọi bộ luật, có một đường thẳng không gãy. Nhà nước thuộc địa nấu bí tích và bán nó theo nghị định. Nhà nước kế thừa cấm nó, treo cổ vì nó, rồi nhốt kẻ đã mua nó và bán đi sức lao động của hắn với giá ba đô la một tháng. Đổi cờ, đổi luật, đổi cả mức án từ cái chết xuống chung thân, mà cái cột thu nhập trong sổ thì chưa một lần trống. Nó đánh thuế lạc thú của hắn, rồi đánh thuế sự sám hối của hắn. Và qua hết một thế kỷ rưỡi vắt kiệt cái cơ thể ấy ở cả hai đầu, chưa một cơ quan nào, chưa một bộ luật nào, chưa một con dấu nào dừng lại để hỏi hắn đang quỳ trước cái gì.
Bởi câu hỏi ấy không nằm trong thẩm quyền của bất cứ cuốn sổ nào. Nhà nước bán được bí tích, và nhà nước bán được cả sự sám hối; cả hai đều có giá, cả hai vào được cột doanh thu. Cái nó chưa bao giờ làm được, ở bất kỳ đầu nào của cuộc giao dịch, là hỏi được câu hỏi. Vậy thì cái gì hỏi được. Cái gì, nếu có, thật sự phục vụ đúng điều mà Régie đã làm giả và cái trại đã từ chối nhìn nhận.
Có một câu trả lời. Không phải cái cưỡng bức của nhà nước, thứ đã tự kết án mình ở cột số sáu mươi phần trăm tái nghiện; cũng không phải, ít ra không dừng ở, cái y khoa thuần khiết. Methadone là một ân huệ thật; nhưng methadone điều hoà một hoá chất bằng một hoá chất khác hiền hơn, giữ cho cái thân thể khỏi quằn quại, và về cái mà thân thể ấy quỳ trước thì nó không hỏi, không thể hỏi, không được lập ra để hỏi. Cái hiệu nghiệm hơn cả hai, và hiệu nghiệm theo một kiểu đáng lẽ phải làm cả nền y học bối rối, lại là thứ kém giống một liệu trình nhất trong tất cả.
Năm 1935, ở Akron, bang Ohio, hai gã nghiện rượu ngồi nói chuyện với nhau, và từ cuộc nói chuyện ấy mọc ra Alcoholics Anonymous. Cái hội ấy, và cả họ hàng mười hai bước của nó về sau trải sang mọi thứ cơn nghiện, không vận hành như một phòng khám. Nó vận hành như một giáo đoàn. Nó đòi ở thành viên đúng những thứ mà thời trị liệu đã long trọng tuyên bố là không liên quan đến bệnh học: sự quy phục một quyền năng cao hơn chính mình, một cuộc kiểm thảo đạo đức không khoan nhượng về đời mình, sự xưng thú trước một người khác, việc đi bồi hoàn cho những kẻ mình đã làm tổn thương, và một sự đồng hành kéo dài đến hết đời. Đây là bộ khung của một cộng đồng đạo đức tâm linh tiền hiện đại, thứ mà người ta tưởng đã chôn cùng cái đình và cái xứ đạo, lén tuồn vào giữa thế kỷ của trị liệu và sống sót ở đó dưới một cái tên thế tục.
Và nó cứu được người ở nơi guồng máy cưỡng bức chỉ tái sản xuất ra kẻ tái nghiện. Đặt cạnh nhau hai mô hình thì lời nguyền lộ ra: cái trại, với đủ hàng rào và phòng kỷ luật và hạn ngạch hạt điều, trả người về với cơn nghiện sáu trên mười lần; cái hội, không tường không khoá, chỉ có những con người gọi nhau bằng tên và một quyền năng cao hơn mà không ai trong phòng chứng minh được, lại giữ được người ở lại với sự tỉnh táo bền hơn hẳn. Điều đó đâm một nhát vào chính cái chẩn đoán. Nếu nghiện thật sự chỉ là một trục trặc của mạch thần kinh, một cái van hoá học kẹt mở, thì vì cớ gì cái thứ chạm tới nó sâu nhất lại là một hội mang dáng dấp giáo đoàn, chứ không phải phòng khám hay nhà tù? Cái chữa được đang phản bác cái chẩn đoán. Phương thuốc bền nhất cho căn bệnh này hoá ra gần một cuộc cải đạo hơn gần một toa thuốc.
Bill Wilson, người ngồi ở Akron năm ấy, đọc William James, đúng cái William James đã tả cơn say như cú với của votary, của kẻ dâng lễ, từ rìa lạnh của vạn vật về lõi rực sáng. Nhà tâm lý học thực nghiệm tả cơn khát của kẻ nghiện như một thứ tôn giáo bị sai lệch; rồi từ chính trang sách ấy, qua một người đã chạm đáy, mọc ra cái cộng đồng chữa được cơn khát đó bằng cách làm cái việc mà mô hình bệnh thề là vô can: nó định hướng lại sự thờ phượng. Nó không điều hoà hoá chất. Nó cầm lấy cái năng lực hiến mình còn nguyên vẹn ở kẻ nghiện, cái năng lực đã hiến nhầm cho một viên nhựa đen, và xoay nó về một đối tượng khác.
Việc này không phải một lời kêu gọi phục dựng cái đình làng đã mất. Không ai dựng lại được ngôi đền đã bị san. Cái hội kia không chứng minh rằng quá khứ còn cứu được; nó chứng minh rằng cái chức năng mà ngôi đền bị phá từng gánh, định hướng một con người về phía cái vượt lên nó, rèn cho hắn một nếp đạo đức, giữ hắn trong một cộng đồng biết tên hắn, cái chức năng ấy vẫn có thể được phục vụ, lúc này, dưới điều kiện hiện đại, bởi một thực nghiệm đang sống.
Phải dừng lại đúng một bước trước Dunnington. Bởi Dunnington đi hết cú đi. Cái hội ấy cứu được người, ông nói, vì nó trao trả cho cơn khát một đối tượng thật; và với ông, đối tượng thật mang một cái tên, là Thiên Chúa, và việc theo đuổi Thiên Chúa là đam mê duy nhất có thể theo đuổi đến vô hạn mà không bao giờ trở thành cơn nghiện, bởi cái vô hạn thì không nô dịch ai, vì nó không bao giờ cạn để bắt người ta phải tăng liều. Đó là một câu nói hay, và nó đóng kín được toàn bộ lập luận, một cách gọn ghẽ. Nhưng ta ở đây không phải để đồng ý với những kết quả dễ dãi.
Bằng nhân học, ta lập được điều này: con người là sinh thể không sống nổi mà không có một đối tượng để hiến mình tối hậu, và cái khe mở ra khi đối tượng ấy vắng mặt mang đúng hình thù của cái nó đòi, một cái khe có hình Chúa. Cú với tới cái tuyệt đối là có thật, nó in trong cấu trúc của giống loài. Nhưng từ chỗ đứng này, từ cái nhìn của một người quan sát đời sống con người mà không ở trong lòng một mặc khải nào, ta không thể trung thực bước thêm một bước để tuyên bố rằng đối tượng ấy có thật, rằng có một Đấng ở đầu kia cái lỗ, và đem trao Ngài lại. Chính cái việc không bước qua được lằn ranh ấy là nội dung của điểm gãy này.
Và lằn ranh ấy dẫn tới một kết luận: nếu cú với tới cái tuyệt đối là có thật về mặt nhân học, mà đối tượng thật thì bất khả tuyên bố từ chỗ ta đứng, thì cái khiến cái hội kia hiệu nghiệm nằm gọn trong một thứ mà các thành viên của nó thật sự tin, một bước nhảy đức tin diễn ra bên trong từng con người, ở nơi không ai với tới được. Nhà nước không cưỡng chế được nó, đã thử suốt một thế kỷ rưỡi và chỉ tổ làm vỡ trại. Triết gia không kê đơn được nó; tôi đang đứng đây, đã lần ra được cái cơ chế đến tận mắt xích cuối, và vẫn không kê nổi cho ai một niềm tin mà chính mình không có thẩm quyền ban. Hệ quả thì rõ ràng: cái thứ duy nhất tỏ ra hiệu nghiệm lại đúng là cái thứ duy nhất không một quyền lực nào ban hành được.
Vậy là kẻ nghiện và kẻ phân tích hắn rốt cuộc đứng trước cùng một bức tường. Ta chứng minh được cái lỗ; ta không lấp được nó. Ta truy ra được rằng con người cần một bàn thờ thật để khỏi chết khát bên một bàn thờ giả, và ta không thể dựng lại được bàn thờ thật cho hắn. Một bên là kẻ đã uống nhầm cái tuyệt đối; một bên là kẻ đã gọi đúng tên cơn khát của hắn và vẫn không rót được vào đó một giọt nào. Cùng một sự bất lực, chia cho hai người, ở hai phía của một câu hỏi mà cả hai đều nghe rõ.
Cuối cùng, còn lại một câu chưa hỏi: vậy ta đang khuyến nghị điều gì.
Không có một lời khuyên sạch sẽ nào ở cuối con đường. Cho kẻ nghiện đứng trước bức tường, và cho cả một dân tộc đã bị tước sạch đền đài rồi bị trả về với cơn khát còn nguyên, thứ duy nhất mà tôi có thể đưa ra được là một sự tỉnh táo không kèm theo gì hết. Và tỉnh táo, trao cho kẻ đã bị giải thiêng, chỉ có nghĩa là trả hắn về đúng cái trống rỗng đã khiến liều thuốc trở nên hợp lý ngay từ đầu. Hắn được hoàn lại đầy đủ cái khoảng không mà hắn đã uống để khỏi phải nhìn.
Bởi cộng lại, không một bàn tay nào với tới được. Nhà nước bán được bí tích, rồi bán được cả sự sám hối, mà chưa lần nào trả lại nổi cái bàn thờ nó đã san. Phòng khám điều hoà được hoá chất bằng một hoá chất hiền hơn, giữ cho cái thân khỏi quằn quại, mà về cái mà cái thân ấy quỳ trước thì nó không thể giải thích gì thêm. Cái hội ở Akron cứu được người, nhưng nó hiệu nghiệm bằng một thứ không quyền lực nào ban hành được, một bước nhảy đức tin xảy ra ở nơi không sắc lệnh nào đặt chân tới. Gộp cả ba lại, cái còn lại trong tay là một chẩn đoán đã truy tới mắt xích cuối, và không một phương thuốc nào mà thời này kê nổi.
Một nền văn minh đã dỡ bàn thờ mà vẫn giữ nguyên cơn khát thì không cầm trong tay một dụng cụ nào với tới được vết thương nó cứ liên tục mở ra. Nó sẽ tiếp tục sản sinh ra những kẻ nghiện, đều đặn, vì cái điều kiện mà từ đó họ sinh ra chính là bản thân nó: những đối tượng thờ phượng chính đáng đã bị phá bằng cải cách ruộng đất và tập thể hoá và những chiến dịch chống mê tín, rồi những tuyệt đối giả được bày lại trên mọi quầy kệ, đóng dấu, định giá, chờ sẵn một cơn khát mà chính sự san phẳng kia đã để lại không nơi trú ngụ. Cái lò luyện và cái trại lao động chỉ là hai đầu lộ liễu của một guồng máy mà phần thân chạy ngầm khắp đời sống. Kẻ nghiện không đứng ngoài trật tự ấy như một ngoại lệ. Hắn là sản phẩm trung thực nhất của nó, kẻ đã làm đúng cái việc mà cả nền văn minh dạy hắn làm, là đi tìm cái tuyệt đối ở chỗ người ta bảo hắn nó được bán, và trả giá đủ đầy cho lòng trung thực đó. Phần còn lại của chúng ta chỉ khác hắn ở liều lượng, và ở chỗ may mắn chọn nhầm một thứ giết người chậm hơn.
Còn lại đúng một lằn ranh không có thẩm quyền bước qua. Cái khe có hình Chúa thì đã được chứng minh, in trong cấu trúc của giống loài, sâu và rõ. Nhưng từ chỗ đứng này, ngoài lòng mọi mặc khải, không thể nói thêm rằng có một Chúa ở đầu kia để lấp nó.
Sự trống rỗng ấy là có thật. Nhưng việc có một sự hiện diện nào bước vào để lấp đầy nó hay không, lại là một câu hỏi mà đành phải ngậm ngùi để trống.
Régie trong tiếng Pháp chỉ một sở do nhà nước trực tiếp quản lý và khai thác, phân biệt với lối khoán lại cho tư nhân đứng thu. Ở Đông Dương, Régie de l’Opium, Sở Độc quyền Á phiện, là cơ quan nhà nước trực tiếp nhập nhựa thô, nấu luyện, đóng gói và bán thuốc phiện.
https://www.hrw.org/reports/Vietnam_0911_brochure_VIET_LOWRES.pdf


