Vùng Phản chợ
Về một cái tên mà chỉ bên nguyên cáo dùng, và khoảng cách giữa cái chợ với cái régie mà suốt một thế kỷ người ta vẫn gom làm một.
Có những thứ ta thừa hưởng vốn đã nạp sẵn thuốc súng. Chủ nghĩa tư bản là một trong số đó. Người Việt dùng nó như dùng một danh từ trung tính của khoa học kinh tế, ngang hàng với lạm phát hay tỷ giá, mà quên mất rằng nó ra đời trong một phòng xét xử, từ miệng bên nguyên cáo, và chưa một lần được kẻ bị gọi tên nhận là của mình.
Hãy lật cái tang vật ấy lên xem ngày tháng khai sinh của nó.
Năm 1850, trong ấn bản thứ chín cuốn Organisation du travail, nhà xã hội chủ nghĩa Louis Blanc viết ra chữ capitalisme theo nghĩa một hệ thống. Chữ ấy không có trong năm ấn bản đầu, từ 1839 đến 1848; nó chỉ hiện ra ở lần in này, và hiện ra như một lời buộc tội. Blanc định nghĩa gọn ghẽ: sự chiếm hữu tư bản bởi một số người, loại trừ những người còn lại. Trong câu văn của ông, cái chủ nghĩa ấy là kẻ tử thù của chính cái vốn mà nó tiếm đoạt. Rồi ông gấp sách lại và không bao giờ dùng chữ ấy nữa. Một người đúc ra một khái niệm cốt để nguyền rủa nó, xong việc thì bỏ đi.
Chữ ấy được truyền tay. Nhưng không phải giữa những người thực hành tư bản.
Suốt gần nửa thế kỷ sau Blanc, capitalisme nằm gần như trọn trong tay những kẻ chống nó: các nhà xã hội chủ nghĩa, những người Công giáo cánh hữu tiếc nhớ trật tự cũ, đôi khi cả những kẻ bài Do Thái. Nó là một chữ để mạt sát, lưu hành trong giới của những người tin rằng cái nó chỉ tên vốn đã là một tội ác. Người bỏ vốn, người buôn bán, không ai gọi việc mình làm bằng cái tên ấy. Cái tên do phía nguyên cáo đặt ra, và một thời gian dài cũng chỉ phía nguyên cáo dùng nó.
Điều kỳ lạ hơn cả nằm ở hai cái tên mà hậu thế gán cho vị trí sáng lập.
Adam Smith, người mà chúng ta bảo là cha đẻ của tư bản, chưa một lần sử dụng chữ tư bản chủ nghĩa. Chữ ấy chưa tồn tại khi ông sống; và cái ông mổ xẻ trong Của cải của các quốc gia không mang tên đó, mà mang tên hệ thống trọng thương, thứ ông công kích chứ chớ hề ca ngợi. Karl Marx, người ta bảo là kẻ phổ biến nó, cũng không dùng danh từ Kapitalismus trong tập một bộ Tư bản luận. Marx viết Kapital, viết Kapitalist, và viết đi viết lại một cụm khác: “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”, kapitalistische Produktionsweise. Ông có một danh từ chỉ cái vốn, một danh từ chỉ kẻ nắm vốn, một cụm từ chỉ cách thức sản xuất. Ông không có, và cũng không cần, cái danh từ trừu tượng gói trọn tất cả lại thành một con quái vật duy nhất. Cái danh từ ấy được người khác lắp vào sau lưng ông.
Người lắp nó vào là một kẻ đứng ngoài quan sát. Năm 1902, Werner Sombart in Der moderne Kapitalismus, và chính công trình của một học giả Đức ngồi ngoài nhìn vào mới nâng chữ ấy lên hàng thuật ngữ, cấp cho nó cái vẻ khách quan mà từ đó nó không rời ra nữa.
Vậy là lai lịch của cái tên đã đủ rõ. Một nhà xã hội chủ nghĩa đúc ra nó cốt để nguyền rủa, rồi vứt bỏ. Những kẻ thù của nó rêu rao suốt nửa thế kỷ như mang theo một lời chửi. Hai người được tôn làm tổ phụ thì một người không hề biết đến nó, một người cố tình không dùng. Kẻ khoác cho nó tấm áo học thuật thì lại là một người bàng quan. Trong toàn bộ phả hệ ấy, tuyệt nhiên không có mặt bị cáo. Bị cáo chưa bao giờ tự chọn tiêu đề của bản cáo trạng.
Một cái tên do phía buộc tội đặt ra chưa chắc đã là một cái tên sai. Kẻ thù đôi khi nhìn ra ta rõ hơn ta tự nhìn mình. Có điều một cái tên như thế đã nạp sẵn phán quyết vào trong nó trước khi phiên xử kịp mở; nó gọi bị cáo bằng đúng cái tội mà nó muốn kết. Nhận lấy chữ ấy nguyên vẹn, rồi ngồi tranh cãi xem chủ nghĩa tư bản có tội hay vô tội, là đã bước vào phòng xử theo đúng lối bên nguyên dựng sẵn. Vậy thì còn một lối khác để đi: gỡ cái tên ra khỏi cái vật, rồi hỏi xem cái vật nằm dưới tấm áo ấy rốt cuộc là gì.
Người bóc tách cái vật khỏi cái tên một cách kiên nhẫn nhất lại không phải một người bạn của tư bản. Fernand Braudel, sử gia của trường phái Annales, đứng về phía tả nhiều hơn hữu, đã bỏ ra ba tập sách dày để nhìn đời sống kinh tế châu Âu từ thế kỷ mười lăm đến thế kỷ mười tám. Ông không tìm thấy một cái gì cả. Ông tìm thấy ba tầng chồng lên nhau, mỗi tầng chạy theo một luật riêng.
Dưới cùng là đời sống vật chất: những thói quen cũ kỹ, cái ăn cái mặc tự cấp tự túc, phần kinh tế chưa bao giờ đặt chân vào chỗ mua bán. Braudel gọi nó là cái nền nằm ở gốc rễ của mọi thứ. Người ta sản xuất ở đó để mà sống, không để mà bán.
Bên trên là cái chợ. Đây là vùng trao đổi mà Braudel mô tả bằng một chữ đắt giá: minh bạch. Những cuộc trao đổi không chứa điều bất ngờ nào, ai cũng thấy giá, ai cũng biết mặt hàng, người bán với người mua đứng ngang nhau trong tầm mắt của nhau. Cái chợ thì nhỏ, mỗi vùng lại có một cái, và chúng cạnh tranh nhau: phiên chợ quê, cái sạp ngoài phố, hội chợ theo mùa, người thợ mang sản phẩm ra đổi lấy thứ mình còn thiếu. Ở đó giá cả tự tìm lấy mức của nó, bởi không một ai đủ lớn để một mình áp đặt nó lên kẻ khác. Braudel còn để lại một bằng chứng phản chứng khó chịu cho những ai quen đánh đồng cái chợ với tư bản: nước Trung Hoa, ông nói, đã nuôi một nền kinh tế thị trường phồn thịnh suốt nhiều thế kỷ mà rốt cuộc chưa từng đẻ ra tư bản ở tầng trên cùng.
Cái chợ sống được mà không cần cái chóp đỉnh. Vậy hai thứ ấy không thể là một.
Rồi trên chóp là một tầng khác hẳn. Ở đó ngự những đại thương, những nhà độc quyền, những chủ nhà băng, một nhóm nhỏ mà ảnh hưởng không hề cân xứng với số lượng của nó. Braudel gọi tầng này là chỗ tinh vi và áp chế. Ông cũng đặt cho nó một cái tên mà cả phía buộc tội lẫn phía bào chữa đều không ngờ tới: contre-marché, vùng phản chợ. Trong tập Wheels of Commerce, ông tả nó là “vùng phản chợ, nơi những con thú săn mồi lớn lảng vảng và luật rừng ngự trị”. Chữ ấy thuộc về một sử gia thiên tả, người chẳng có lý do gì để chạy tội cho tư bản.
Cái tầng ấy quan hệ với cái chợ theo lối nào? Nó thoát ra. Nơi cái chợ minh bạch thì nó mờ đục, nơi cái chợ ép người ta cạnh tranh thì nó tìm đường đứng cao hơn cạnh tranh. Vũ khí của cuộc đào thoát ấy là độc quyền và đặc quyền. “Tư bản xưa nay vẫn luôn mang tính độc quyền,” Braudel viết trong tập Afterthoughts, và ông ghi nó xuống bằng giọng bình thản của một nhà quan sát đang chép lại một quy luật, không hề lên gân buộc tội. Kẻ ở tầng trên không chơi ván bài của cái chợ; hắn tìm cách rời khỏi bàn, chiếm lấy riêng cho mình một khoảng thị trường mà những người khác bị cấm đặt chân vào.
Cuộc đào thoát ấy về tới đích ở đâu? Braudel trả lời bằng câu nặng nhất trong cả công trình của ông, cũng trong tập Afterthoughts: “Tư bản chỉ đắc thắng khi nó tự đồng nhất với nhà nước, khi nó chính là nhà nước”. Đỉnh cao của tư bản, theo ông, tới vào lúc nó leo được tới chỗ ngồi của quyền lực chủ quyền và ngồi lẫn vào đó. Con thú săn mồi lớn nhất là con đã giành được luật đứng về phía mình.
Braudel còn gói hai thế giới ấy vào một cặp mô tả: một hình thức trao đổi chân chất, dựa trên cạnh tranh, gần như minh bạch, cái còn lại là một hình thức cao hơn tinh vi và áp chế. Cùng một chữ kinh tế trùm lên cả hai. Bên dưới cái chữ ấy là hai con vật khác giống nhau.
Nhìn qua lăng kính ấy, người nông dân trong ký ức thuộc địa thôi hiện ra như một kẻ lẫn lộn. Anh ghét cái régie, anh thương cái chợ, và giữa hai tình cảm ấy chẳng có gì nghịch nhau: anh đang chỉ tay vào hai tầng khác nhau của cùng một tòa nhà. Cái chợ nơi anh mang gà mang gạo ra bán nằm ở tầng giữa, tầng minh bạch. Bàn tay bóp cổ anh nằm ở tầng trên, tầng đã trèo lên tới nhà nước. Gọi cả hai bằng một chữ là xóa mất đúng cái ranh giới mà Braudel bỏ ra ba tập sách để vạch.
Nếu tầng trên cùng đúng là cái tầng đã tự đồng nhất với nhà nước, thì có một hệ quả đem thử được. Những bộ mặt xấu xí mà thời đại bành trướng để lại, cái mà trí nhớ chung quy hết cho tư bản, gồm thực dân, đế quốc, những công ty khổng lồ dong buồm đi khắp các đại dương: nếu Braudel không sai, chúng phải mang dấu vết của nhà nước chứ không phải dấu vết của cái chợ. Và có sẵn một chỗ để đặt phép thử ấy. Những công ty đặc quyền vẫn được ngợi ca như cỗ máy cái của tư bản, VOC và Đông Ấn, chính là những cái tên mà lịch sử trưng ra đầu tiên mỗi khi có ai muốn chỉ mặt con thú.
Hãy nhìn cho kỹ cái tên đầu tiên.
Công ty Đông Ấn Hà Lan được States General cấp bản đặc quyền năm 1602: 21 năm độc quyền trên toàn bộ giao thương của người Hà Lan ở phía đông mũi Hảo Vọng. Bản đặc quyền ấy không dừng ở chỗ khoanh một vùng thị trường cho một hội buôn. Nó trao cho hội buôn ấy những quyền mà cho tới nay ta vẫn quen gán riêng cho nhà nước: dựng pháo đài, nuôi quân đội, tuyên chiến, ký hiệp ước với các vương triều châu Á, đúc tiền của mình, cầm tù và hành quyết người dưới tay. Trên giấy trắng mực đen, một công ty cổ phần được phép treo cổ người. Và nó dùng hết những quyền ấy: đinh hương với nhục đậu khấu nó bán ra cao gấp mười bốn tới mười bảy lần giá mua vào, còn giá mua thì bị ép xuống tận đáy, bởi nó là kẻ mua duy nhất.
Người nói thẳng ra cái logic bên dưới tờ giấy ấy là Jan Pieterszoon Coen, viên toàn quyền của công ty ở Batavia. Thương mại, theo ông, phải được tiến hành dưới sự che chở của vũ khí; và ông đúc kết thành một câu mà sự lạnh lùng của nó tới nay vẫn còn nguyên: ta không thể buôn bán mà không có chiến tranh, cũng không thể có chiến tranh mà không có buôn bán. Đó là cương lĩnh của một nhà nước biết giữ sổ sách, đóng dưới con dấu của một hội buôn.
Người Anh đẩy cái mô hình ấy tới tột cùng của nó. Công ty Đông Ấn Anh khởi đầu chỉ với vài trăm lính canh kho hàng; đến năm 1803 nó nuôi một đạo quân riêng chừng hai trăm sáu mươi ngàn người, đông gấp đôi quân đội chính quy của Hoàng gia Anh. Một hội buôn cầm trong tay lực lượng vũ trang lớn gấp hai lần lực lượng của chính vương quốc đã sinh ra nó. Và đạo quân ấy không dựng lên để hộ tống những chuyến hàng. Trận Plassey năm 1757, cái mốc mà sử sách vẫn kể như buổi bình minh của đế quốc Anh trên đất Ấn, không được định đoạt bằng sức mạnh quân sự: Robert Clive với chừng ba ngàn quân đứng trước năm mươi ngàn quân của Nawab xứ Bengal, và ông thắng bằng cách mua chuộc viên tổng chỉ huy của đối phương, Mir Jafar. Tám năm sau, vào năm 1765, hoàng đế Mogul Shah Alam II ký cho công ty tờ Diwani: quyền thu toàn bộ thuế khóa của Bengal, Bihar và Orissa. Kể từ dấu ấn ấy, một hội buôn ngồi thu thuế của hàng triệu con người. Nó đã thôi là một tổ chức thương mại thuần túy và đã trở thành một quyền lực đế quốc.
Cái quyền lực khoác áo thương nhân ấy có một người anh em ở chính quốc, và người anh em này còn không thèm giả trang. Jean Baptiste Colbert, tổng kiểm soát tài chính của Louis XIV, dựng cả một học thuyết quanh một nguyên tắc: nhà nước phải cai trị trong lĩnh vực kinh tế đúng như nó cai trị trong ngoại giao, và lợi ích của nhà nước đứng cao hơn lợi ích của thương nhân và của mọi người khác. Nhà vua định đoạt ai sản xuất cái gì, cho ai, với giá nào. Xưởng thợ hoàng gia, hàng rào thuế quan, trợ cấp xuất khẩu, lệnh cấm nhập khẩu: cả cỗ máy ấy tồn tại để dồn vàng bạc về quốc khố, bằng cách bán ra nhiều hơn mua vào, trên lưng các nước đối thủ. Một mệnh lệnh rót từ trên xuống, mang tên thương mại.
Cuốn sách mà đời sau tôn làm văn bản khai sinh của “chủ nghĩa tư bản” lại được viết ra để đánh thẳng vào đúng cái thứ ấy. Của cải của các Quốc gia, được Adam Smith giới thiệu năm 1776, dành trọn Quyển IV cho việc mà chính ông gọi là một đòn công kích hết sức dữ dội nhắm vào toàn bộ hệ thống thương mại của nước Anh. Chính Smith đặt cho đối tượng bị ông mổ xẻ cái tên hệ thống trọng thương. Ông vạch ra rằng hệ thống ấy, tự trong bản chất, là một hệ thống của trói buộc và điều tiết, phục vụ lợi ích riêng của thương nhân và nhà chế tạo trên lưng người làm công, chủ đất và người tiêu dùng nói chung. Thương nhân chống lại thị trường tự do, vì cạnh tranh kéo lợi nhuận của họ xuống. Cái mà Smith công kích, nói cho cùng, là cách những kẻ giàu có và có quan hệ nắn bộ máy công quyền phục vụ lợi ích riêng của họ. Văn bản nền móng của cái mà ta quen gọi là tư bản, rốt cuộc, là một bản cáo trạng nhắm vào nhà nước chỉ đạo nền kinh tế.
Bên dưới tất cả những trường hợp đó là cùng một hình thức pháp lý. Bản đặc quyền công ty cổ phần là một mảnh chủ quyền đem cho thuê. Nhà nước cắt ra một phần quyền lực của chính nó, quyền độc chiếm một ngành, quyền dùng bạo lực, quyền thu thuế, rồi giao cho một nhóm thương nhân đứng ra vận hành và chia lãi. Quân đội, pháo đài, đồng tiền, hiệp ước: những dấu hiệu của một nhà nước, khoác lên mình chiếc áo thương nhân.
Cái hình thức ấy không chết theo thế kỷ mười tám. Nó còn sống, dưới một cái tên tiếng Việt mà bất cứ ai đọc báo cũng biết mặt: doanh nghiệp nhà nước. Cũng một mảnh chủ quyền cho thuê, cũng cái độc quyền được luật pháp bảo hộ, cũng dòng lãi chảy về một nhóm được chọn dưới danh nghĩa quốc khố.
Và cái hình thức ấy có một phiên bản Đông Dương.
Sổ ngân sách chung của Đông Dương thuộc Pháp không lên án ai, không biện hộ cho ai; nó chỉ liệt kê thu chi rồi cộng các cột với nhau. Đọc những cột ấy, cái mà ký ức Việt gọi là tư bản thực dân hiện lên dưới một hình dạng rất cụ thể: một sở độc quyền của nhà nước, thứ người Pháp gọi bằng một chữ là régie, sở do chính quyền trực tiếp nắm và trực tiếp thu. Thuốc phiện, muối, rượu: mỗi thứ một sở.
Đầu tiên là thuốc phiện. Suốt thời thuộc địa, riêng thuốc phiện cung cấp trung bình khoảng một phần năm đến một phần tư toàn bộ ngân sách chung: chừng 20% trong quãng 1899 đến 1922, chừng 24% tính cả 1898 đến 1945. Ở Nam Kỳ những năm đầu, từ 1861 đến 1871, nó chiếm tới gần một phần ba tổng thu. Khi Doumer gom các sở thành một régie thống nhất năm 1898, thuốc phiện đứng ở khoảng một phần tư nguồn lực ngân khố, và suốt hai thập niên sau tỉ trọng ấy dao động quanh đó, chưa bao giờ rớt về thành một con số phụ. Rồi có một năm nó vọt lên: năm 1918, giữa cuộc chiến bên châu Âu, thuốc phiện chiếm một kỷ lục khoảng 42% số thu. Gần một nửa số tiền nuôi cả một chính quyền đến từ việc bán một thứ gây nghiện. Mà thuốc phiện mới chỉ là một trong ba. Cộng cả ba régie lại, theo một cách tính, chúng cung cấp ít nhất một nửa ngân sách chung từ năm 1902 cho tới ngày chế độ thuộc địa cáo chung. Muối đứng ở khoảng 5 đến 9%, chịu cùng một luật buộc mua như rượu; rượu dao động trong khoảng 7 đến 18%; phần lớn còn lại là thuốc phiện.
Đó là chân dung tài chính của cái bị gọi là tư bản: một ngân khố rút quá nửa nguồn sống từ ba sở độc quyền của chính mình, mà hai trong ba là chất gây nghiện.
Trong ba sở ấy, rượu là nơi cơ chế lộ ra trần trụi nhất. Sở độc quyền rượu lập năm 1897, giao cho Auguste Fontaine và Công ty cất rượu Đông Dương, tức SFDIC, nắm gần như toàn bộ thị trường, có nơi có lúc là tất cả: một thị phần nhà nước bảo đảm bằng luật, không do cạnh tranh. Thứ họ bán là cồn công nghiệp cất bằng tháp, đã bị lột sạch cái vị của rượu gạo cổ truyền, và đắt gấp bốn lần thứ rượu người nông dân tự nấu lấy ở nhà. Đắt hơn, dở hơn, thế nên không ai muốn mua.
Một món hàng đắt hơn và tệ hơn thứ tự nhà làm được thì trên một cái chợ chắc chắn nó không bán nổi. Nhà nước giải quyết bằng cưỡng bức. Chính quyền đặt định mức tiêu thụ cho từng làng, buộc mỗi làng phải mua và tiêu cho hết một lượng rượu ấn định. Việc nấu rượu tại nhà, thứ mọi gia đình Việt vẫn làm bao đời, bị đẩy ra ngoài vòng pháp luật và gọi là rượu lậu. Có hẳn một bộ máy đi bắt: Sở Thương chính, Douanes et Régies, có những đội chuyện đi lùng từng bếp, từng vò trong nhà.
Một người nông dân nấu nồi rượu như cha ông anh vẫn nấu, để cúng giỗ, để bán dăm chén ngoài chợ làng. Đội thương chính bước vào sân. Nồi rượu lập tức thành tang vật, và anh, từ người nấu rượu, thành kẻ buôn lậu: bị phạt, đôi khi bị lôi ra tòa, vì đã làm đúng thứ gia đình anh vẫn làm từ trước khi có bóng người Pháp trên đất này. Tội của anh, ghi trên giấy, là lậu: làm ra thứ nhà nước đã giành lấy độc quyền. Mà anh vẫn phải móc tiền mua cho đủ định mức thứ cồn tháp đắt gấp bốn lần anh không hề muốn uống.
Năm 1918, hai người Việt về sau đi hai ngả rất khác nhau đã cùng gọi tên cơ chế này. Phan Chu Trinh và Nguyễn Ái Quốc, người về sau là Hồ Chí Minh, viết rằng chính quyền buộc đến cả những làng nhỏ nhất của chúng tôi phải mua những lượng lớn rượu và thuốc phiện. Hãy đọc kỹ chủ ngữ. Kẻ đi buộc, trong lời chứng của hai nhà cách mạng tương lai, là chính quyền. Không phải cái chợ.
Thứ đè nặng lên người nông dân không phải sự trao đổi, mà là mệnh lệnh. Cái biến định mức rượu thành công cụ khổ đau là một lệnh của chủ quyền ép ra kết cục định sẵn, có luật hình sự đứng sau lưng. Bán cho anh thứ rượu gấp bốn lần giá, cấm anh tự nấu, ấn định lượng anh phải mua: nhà nước chọn trước kết cục rồi bắt đời sống khớp vào. Đó cũng là cơ chế của cái kế hoạch sẽ tới sau 1945: người ngồi ở trung tâm định đoạt ai sản xuất cái gì, mua bao nhiêu, ai làm khác thì phạm luật. Cái régie thuộc địa và cái kế hoạch xã hội chủ nghĩa chia nhau chung một từ, chỉ khác lá cờ treo bên trên.
Vậy nên bộ mặt xấu xí ký ức Việt gán cho tư bản, nếu truy đến tận sổ sách, là bộ mặt của cái régie. Cái chợ làng, nơi người nông dân bán dăm bát rượu, đôi thúng thóc, chưa bao giờ ấn định mức mua cho ai, chưa bao giờ cử người đi lùng bếp nhà ai. Kẻ đi lùng bếp là cái régie.
Đến đây người phản bác sẽ ngắt lời. Lợi nhuận sở rượu chảy về Fontaine và SFDIC, tiền thuốc phiện và tài chính thuộc địa chạy qua Ngân hàng Đông Dương cùng các cổ đông của nó. Cái régie sinh lời, và sinh lời cho những cái tên rất riêng tư. Vậy cái ta vừa mô tả chính là tư bản tư nhân vận hành bằng bạo lực của chủ quyền. Tách cái chợ trong sạch ra khỏi nhà nước có tội rồi chỉ mang nhà nước ra kết án, theo họ, chính là thao tác phủi bỏ liên can. Những chỉ trích như vậy có cả một truyền thống sau lưng.
Thứ rượu công xưởng mà người nông dân bị cưỡng bức phải mua chảy ngược thành cổ tức cho Société française des distilleries de l’Indochine của Auguste Fontaine; thuốc phiện và tín dụng thuộc địa chạy qua Banque de l’Indochine cùng cổ đông của nó. Viên quan coi régie không đứng một mình. Sau lưng ông ta là một hàng dài những kẻ ăn lãi ngồi ở Paris, sống béo nhờ chính cái hạn ngạch họ chưa một lần trông thấy. Đúng ở chỗ này, những phản bác sắc bén mới lên tiếng. Họ không hề lẫn cái chợ với cái régie. Là nhà sử học của trường phái thế giới hệ thống, họ bảo rằng chính sự phân biệt giữa thị trường và chủ nghĩa tư bản kia mới là một thủ thuật tẩy rửa.
Immanuel Wallerstein là một người như vậy. Thị trường hoàn toàn tự do, ông viết, “vận hành như một ý thức hệ, một huyền thoại, một sức ép ràng buộc, nhưng chưa bao giờ như một thực tại thường nhật”. Nhà tư bản không cần một thị trường hoàn toàn tự do; ông ta cần những thị trường chỉ tự do một phần. Bởi lợi nhuận sinh ra từ độc quyền, và độc quyền thì do quyền lực chính trị dựng lên và che chở. Thị trường tự do trong sơ đồ này, chỉ là thứ khẩu hiệu của kẻ thua cuộc trong ván cờ tìm đường độc quyền viện ra để đòi lại phần mình, chẳng phải một vùng đất trong sạch nào cả.
Đó là một phản biện hoàn toàn đáng giá. Vì nếu Wallerstein đúng, thì cái đỉnh mà Braudel gọi là phản chợ, cái tầng chỉ đắc thắng khi nó là nhà nước, thôi không còn đứng ngoài chủ nghĩa tư bản được nữa. Nó là chủ nghĩa tư bản, trọn vẹn, và xưa nay vẫn thế. Ellen Meiksins Wood còn đẩy thêm một nấc xa hơn: chủ nghĩa tư bản chào đời từ cưỡng bức, từ những cuộc rào đất và tước đoạt, từ sự lệ thuộc vào thị trường chứ không phải từ cơ hội mà thị trường ban cho; coi cái chợ như một cơ hội vô tội, bà gọi thẳng, là “thứ tuyên truyền tư bản thô thiển”. Và cuối cùng là David Harvey khoá nốt lối thoát cuối: tích luỹ bằng tước đoạt vẫn đang tiếp diễn, thường trực, chẳng bao giờ khép lại thành một tiền sử đã qua để ai đó cách ly bạo lực vào quá khứ cho sạch tay.
Những người phản biện này thuộc lòng cái régie kia. Cổ tức rượu cưỡng bức vào túi Fontaine; thuốc phiện nuôi béo Banque de l’Indochine. Vậy thì, họ nói, chính cái régie ấy đã chứng minh được sự dung hợp: tư bản tư nhân vận hành xuyên qua cưỡng bức chủ quyền. Câu “đó là nhà nước chứ không phải chủ nghĩa tư bản” chỉ làm đúng một việc, là xoá tên những kẻ nhận cổ tức, những kẻ thu gom lợi lộc khỏi câu chuyện. Đó là hình thức mạnh nhất của lời buộc tội.
Tôi sẽ chấp nhận cái sự thật ấy, nhưng về cái tên thì không.
Wallerstein và Braudel thực ra chỉ chia tay nhau ở một chỗ rất hẹp. Về hiện tượng, hai người gần như đồng thuận: trên đỉnh cao, tư bản hợp nhất với quyền lực nhà nước, và độc quyền là nơi món lợi nhuận lớn sinh ra. Họ rẽ hai ngả ở chỗ gọi tên. Wallerstein gọi cái đỉnh ấy là chủ nghĩa tư bản rồi dừng lại; Braudel gọi nó là phản chợ, và bằng cách gọi ấy, ông tách nó khỏi cái tầng chợ búa bên dưới.
Toàn bộ chuyện được thua nằm ở việc cắt tách hay không tách đó. Vậy biến số nào mới truy được đau khổ của người nông dân, xuyên suốt cả cái régie lẫn cái kế hoạch sắp tới sau 1945? Điều biến hạn ngạch rượu thành một khí cụ của khốn cùng không nằm ở chỗ đồng tiền đã sang tay. Nó nằm ở một mệnh lệnh tối cao buộc cái làng phải nuốt cho hết ngần ấy lít rượu công xưởng, cưỡng hành bằng luật buôn lậu. Đấy đúng là cơ chế của cái kế hoạch sẽ thay chân nó: một quyền lực tối cao chỉ định ai sản xuất gì, tiêu thụ bao nhiêu, dưới lưỡi dao của pháp luật. Người bị phạt vì nấu rượu lậu năm 1918 và người bị buộc bán thóc theo nghĩa vụ năm 1958 cúi đầu trước cùng một thứ quyền lực, dẫu lá cờ trên đầu đã kịp đổi màu.
Cho nên dù ta xếp sự dung hợp vào ngăn chủ nghĩa tư bản của Wallerstein hay ngăn phản chợ của Braudel, cái trình tự Việt Nam vẫn chỉ về đúng một hướng: nó buộc tội cái nhà nước đang ra lệnh, không buộc tội cái chợ. Sự phân biệt kia vì thế là một cuộc chẩn đoán. Nó cô lập đúng cái biến số mà lối gọi gộp “tất thảy đều là tư bản” xoá nhoà; trò rửa mặt đến cuối lại nằm ở đầu bên kia, nơi cái biến số ấy bị bôi tẩy cho sạch dấu.
Cái bẫy, rốt cuộc, nằm ngay ở khâu đặt tên. Cái tên do phía nguyên cáo dựng lên hồi giữa thế kỷ mười chín đã gói cái chợ và cái régie vào chung một chữ, để rồi cứ vạch cổ tức của Fontaine là tiện tay kết án luôn cả anh hàng xén ngoài phố huyện. Suốt một thế kỷ, ta thừa kế cái gói ấy như một danh từ đơn nhất, chưa một lần tháo ra để đếm bên trong có mấy con thú.
Một trăm năm nay ta cãi nhau về tội trạng của một bị cáo mang cái tên do bên nguyên đặt cho. Bộ mặt xấu xí mà trí nhớ Việt Nam vẫn gán cho cái chợ, xưa nay vẫn luôn là bộ mặt của kẻ cầm quyền tối cao, khoác ngoài một chiếc áo thương nhân.
Còn kẻ cầm quyền ấy, ngày nó cởi phăng chiếc áo thương nhân và mặc thẳng cái kế hoạch lên người, công khai, nhân danh chính những kẻ mà régie đã vắt đến cạn, thì nó chẳng còn phải đi mượn cái tên nào nữa. Nó đã có sẵn một cái tên của riêng mình. Và nửa dân tộc đã đứng dậy hoan hô cái tên đó.
Cảm ơn bạn đã đọc. Đây là bài viết đầu tiên trong bộ ba bài viết về chủ nghĩa tư bản của kênh, dự kiến ra mắt vào tối thứ Sáu cách tuần. Bạn đọc có thể cân nhắc theo dõi kênh để có thể tìm đọc bài viết tiếp theo khi nó đã sẵn sàng.



Vậy ra đây là nguồn gốc của cụm từ "tư bản đỏ": những tập đoàn độc quyền của nn xhcn. Một đảng mang lý tưởng chống lại tư bản chủ nghĩa, nhưng lại đồng minh với chính nó để quản lý xã hội; quả là một con đường nan giải.