Danh bất chính
Về một nền kinh tế không nhận quen với bốn phần năm lực lượng lao động của mình.
Đó là năm 1986. Lạm phát thì phi mã, còn chỉ số giá bán lẻ ở Việt Nam tăng gấp bảy. Thu nhập bình quân đầu người rơi xuống độ thảm thương, đặt cả nước vào nhóm hai mươi quốc gia nghèo nhất thế giới. Con số ấy không đột ngột xuất hiện ngày một ngày hai, mà trong suốt mười năm sau 1975, thu nhập đầu người cứ mỗi năm mỗi đi xuống. Đó là kết quả của một nền kinh tế đã vận hành một cách kiên trung những lý thuyết xã hội chủ nghĩa, khi mà sở hữu tư nhân bị dẹp bỏ, ruộng đất thì tập thể hóa, giá cả và mậu dịch đều nằm trong quyền quyết định của nhà nước. Cả xã hội được nuôi bằng tem phiếu và cửa hàng quốc doanh. Kết quả là một dân tộc mỗi sáng thức dậy thấy đồng bạc trong túi mình ngày càng vơi đi, phải chen lấn xếp hàng trước những quầy mậu dịch trước khi nó bị quét sạch mà chưa đến mình; thậm chí, ở nhiều vùng, còn đứng trước cái đói.
Đến tháng 12 năm ấy, Đại hội Đảng họp tại Hà Nội và giới thiệu một lối thoát: Trường Chinh rời ghế Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh lên thay thế. Cái đại hội ấy mở ra là một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có nhà nước quản lý; và cái tên mà công thức này về sau đọng lại, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dồn toàn bộ sức nặng vào một từ nằm giữa: định hướng. Giờ thì không còn gom tất cả vào hợp tác xã hay quốc doanh, cũng không nhận cái công việc phác thảo kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế, chỉ còn đưa ra một phương hướng, một lời cam kết rằng cỗ máy thị trường vừa được tháo xích rốt cuộc vẫn sẽ quay mặt hướng về phía cái đích cũ. Nhà nước thôi đứng ở vị trí làm chủ, thôi vẽ chỉ tiêu cho từng bao gạo, từng thước vải cân thịt; nó chỉ còn giữ lấy quyền chỉ tay về hướng mà con thuyền phải đi.
Bốn mươi năm sau, cái danh xưng vẫn nằm y nguyên trên bảng hiệu. Ở đầu bên kia, những xứ thịnh vượng bậc nhất Âu châu cũng đang khoác lên mình đúng cái tên đó. Những nước vùng Scandinavia, đứng đầu là Thụy Điển, đã từ lâu được cả thế giới lẫn chính họ tự xem mình như là hình mẫu của chủ nghĩa xã hội (phiên bản thành công, tất nhiên): y tế miễn phí, đại học bao trọn học phí, khoảng cách giàu nghèo được thu ngày càng hẹp, một tầng lớp trung lưu tận hưởng trong mức sống an toàn, thứ mà phần còn lại của phương Tây thèm muốn, cùng những bảng xếp hạng hạnh phúc mà năm nào mấy nước ấy cũng thay phiên đứng đầu. Ở một cực là kẻ đã giàu tự nhận mình là xã hội chủ nghĩa; cực còn lại là kẻ còn nghèo đang vươn lên, víu giữ lấy cái tên xã hội chủ nghĩa phủ lên trên một nền kinh tế thị trường. Người Trung đã bước trên con đường ấy từ cuối thập niên 70, còn Việt Nam thì từ 1986. Với một trí óc trẻ trung và tử tế, lối đi hiện ra chói lọi đến mức gần như không thể cưỡng lại: những nơi đã cập bến giàu sang là do áp dụng thành công chủ nghĩa xã hội, còn với những xứ còn khốn khó, đó là chủ nghĩa xã hội đang trên đà quá độ. Giữa hai thái cực đó là cái học thuyết đứng ra như lực lượng duy nhất vừa trao vương miện cho kẻ đã giàu, cũng vừa nâng đỡ kẻ còn nghèo khó.
Trách làm sao một người trẻ tin vào con đường đó đây?
Thế rồi Rainer Zitelmann đề nghị ta hình dung một cái ống nghiệm chứa hai thành tố: nhà nước và thị trường. Khi ta thêm thị trường vào ống như người Trung Quốc vẫn làm từ thập niên 80, đói nghèo lui dần và chỉ dấu thịnh vượng xuất hiện. Tỉ lệ dân Trung Quốc sống dưới ngưỡng bần cùng đã giảm từ gần như tất cả vào đầu thập niên 1980 xuống còn chưa đầy phần trăm, là cuộc đánh bại cái đói lớn nhất và nhanh nhất mà lịch sử loài người từng chứng kiến. Đổ thêm nhà nước vào cái ống đó, như cách mà Venezuela vẫn làm từ năm 1999, thì thịnh vượng triệt thoái và cái đói tràn về, ngay tại một quốc gia nằm trên một trữ lượng dầu lớn bậc nhất thế giới. Vậy hóa ra cái quyết định vận mệnh loài người nằm ở tỷ lệ giữa hai thành tố trong ống, chứ chẳng quyết định ở miếng nhãn dán bên ngoài.
Trong cuộc thí nghiệm đó, chẳng còn ai cãi nhau về cái chủ nghĩa nữa; người ta chỉ còn cân đong tỉ lệ. Cuộc tranh đoạt của những thứ chủ nghĩa từng là câu hỏi lớn của thế kỷ trước, nay chỉ còn là tấm bình phong; còn thứ đem ra tranh cãi bây giờ là liều lượng. Việt Nam đã chỉnh liều lượng ấy chưa? Đổi mới và những Nghị quyết nối đuôi nhau đã làm công việc đó rồi, chỉ là vẫn giữ nguyên tấm biển cũ ngoài cửa. Cái tên còn được treo ngoài cửa không cho biết điều gì đang chạy bên trong; cái tỉ lệ mới cho biết được. Nếu quả đúng như thế, thì Thụy Điển, cái xứ mang cái danh xã hội chủ nghĩa một cách kiêu hãnh nhất mà vẫn ngự trên đỉnh cao nhất của thịnh vượng, phải là nơi liều lượng thị trường rót vào ống nghiệm nhiều nhất.
Từ năm 1870 đến năm 1936, Thụy Điển là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Trong suốt một trăm năm từ 1870 đến 1970, chỉ mỗi Nhật Bản có mức tăng thu nhập đầu người vượt được họ. Cuối thập niên 60, thu nhập bình quân đầu người của Thụy Điển đã leo lên hàng cao thứ ba thế giới và gần ngang nước Mỹ. Toàn bộ lượng của cải đó được vun đắp trong một xứ có nhà nước gọn nhẹ, mức thuế thấp, quyền tư hữu thì được bảo vệ chắc chắn và mậu dịch để cho tự do. Một phần đà tăng trưởng ấy là do đuổi bắt, vay mượn công nghệ của những nước đi trước - nhưng không phải tất cả, vì ở nhiều ngành, công ty Thụy Điển đã sớm đi đầu về kỹ thuật.
Cái nhà nước phúc lợi đồ sộ mà cả thế giới hình dung mỗi khi nghe đến Thụy Điển là thứ đến sau tất cả những bước phát triển đó. Mãi tới năm 1960, mức thuế ở đây vẫn ngang với phần còn lại của thế giới phát triển. Ngay cả sự thu hẹp khoảng cách giàu nghèo cũng đã diễn ra trước khi các chính sách chuyển giao mang tính bước ngoặt của nhà nước phúc lợi ra đời: đến năm 1950, phần thu nhập rơi vào tay nhóm giàu nhất ở Thụy Điển đã sẵn thấp hơn so với các nước khác. Sự bình đẳng là thứ có trước; nó lớn lên trong thị trường, rồi bộ máy phân phối của nhà nước tới sau để thừa hưởng nó.
Nhà nước phúc lợi khổng lồ chỉ thành hình trên số của cải mà chính nó đã tích cóp suốt một thế kỷ trước đó, và nó bắt đầu tiêu pha vào chính cái vốn ấy. Sau nhiều thập niên bộ máy nhà nước liên tục phình to, thì tăng trưởng dần chậm lại, khu vực tư nhân ngừng tạo ra công ăn việc làm, kéo theo đó là nợ công dâng lên, rồi cả nền kinh tế trượt vào khủng hoảng vào đầu thập niên 90. Ở đáy của cuộc khủng hoảng năm 1993, GDP bình quân đầu người của Thụy Điển thấp hơn của Mỹ chừng một phần tư; một nước đã từng sát sườn Mỹ trong cuộc đua thịnh vượng cá nhân, giờ thì với sự phình to của nhà nước, đã mất đi lực đẩy của mình. Gần như suốt thập niên 90, có gần hai triệu người Thụy Điển đã từng rơi vào cảnh thất nghiệp, một nửa trong số ấy mất việc từ hai năm trở lên. Số đó là chừng 40% lực lượng lao động của họ. Đó là cái giá của cái nhà nước phúc lợi của Thụy Điển, là cái mà phần còn lại của thế giới cứ ngỡ chính là thứ đem đến thịnh vượng.
Đến lúc này thì Thụy Điển đã làm được cái điều mà một nước xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa không thể làm: nó quay đầu hướng về phía thị trường. Trong suốt thập niên 90, nhà nước cởi bỏ bớt quy định, cắt giảm thuế, thiết lập một hệ thống hưu trí mới và một ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ. Năm 1992, ngay cả trường học cũng được mở cửa cho cạnh tranh: tiền ngân sách đi theo đứa trẻ tới bất cứ ngôi trường nào, bất kể công tư, mà cha mẹ nó chọn. Chi tiêu công tụt từ 70% GDP xuống còn khoảng 50%. Sau năm 1990, trên mọi thước đo tự do kinh tế mà không tính quy mô nhà nước, kinh tế Thụy Điển đứng cao hơn mức trung bình của cả khối OECD.
Chủ nghĩa xã hội, nếu ta hiểu cho đúng, là việc nhà nước nắm lấy quyền sở hữu và điều hành sản xuất; nhà nước phúc lợi là một câu chuyện khác hẳn: đó là một nền sản xuất vẫn nằm hoàn toàn trong tay tư nhân, chúng bị đánh thuế thật nặng rồi đem chia lại phần thu được. Chưa từng có quốc gia Bắc Âu nào quốc hữu hóa nền sản xuất của mình. Họ ngồi ở nhóm dẫn đầu những bảng xếp hạng tự do kinh tế của thế giới, nơi mà điểm số vốn dĩ được chấm bằng quyền tư hữu và mức độ tự do của thương mại. Một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thật sự, xét theo đúng quy chuẩn đó, lẽ ra phải nằm ở những vị trí chót cuối của những bảng xếp hạng ấy. Năm 2015 khi ở tại Harvard, thủ tướng Đan Mạch Lars Rasmussen đã đưa ra câu trả lời đanh thép với những người Mỹ cánh tả vốn quen gán mô hình Bắc Âu cho một thứ chủ nghĩa xã hội nào đó:
“Đan Mạch còn xa mới là một nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa. Đan Mạch là một nền kinh tế thị trường.”
Cái mô hình ấy là có thật và đáng ngưỡng mộ; chỉ cái tên đặt lên nó là sai.
Ingvar Kamprad xây dựng nên IKEA, thương hiệu nội thất Thụy Điển bậc nhất trần đời, từ tên sản phẩm bằng tiếng Thụy Điển cho tới hai màu xanh vàng lấy từ màu của chính lá quốc kỳ. Thế rồi tới năm 1973, ông rời Thụy Điển. Thuế đánh trên những người giàu nhất khi ấy có thể vọt tới 85%, và ông buộc phải đi tìm chỗ đánh thuế nhẹ tay hơn: Thụy Sĩ; ông sống ở đó như một kẻ lưu vong thuế khóa suốt bốn thập kỉ. Quyền sở hữu IKEA được ông gói vào những quỹ đặt tại Hà Lan và Liechtenstein, sắp đặt sao cho thuế phải nộp mỏng hết mức. Ông chỉ trở về Thụy Điển năm 2013, sau khi đã bãi bỏ sắc thuế đánh trên tài sản và hạ các mức thuế xuống. Biểu tượng sống của Thụy Điển xã hội chủ nghĩa đã sống gần bốn mươi năm ở Thụy Sĩ để tránh chính cái nhà nước thuế má mang tên ấy, và chỉ chịu về nhà khi nhà nước ấy đã ngả hẳn về phía của thị trường.
Câu chuyện ấy không của riêng gì Thụy Điển; nó còn chạy cả chiều ngược lại. Một xứ đã giàu thì tự khoác lên mình cái tên xã hội chủ nghĩa trong khi cỗ máy bên dưới hoàn toàn là thị trường. Một xứ còn nghèo thì làm điều ngược lại: giữ khư khư cái tên xã hội chủ nghĩa và khoán đứt phần việc cho thị trường. Cái tên thì chỉ về một phía, còn cỗ máy chạy về hướng ngược lại; và ở đằng Đông bán cầu, đó là chuyện nhà chúng ta.
Ở nhà, cái tên được ghi hẳn vào hiến pháp: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Rồi ai đang gánh ai? Khu vực kinh tế tư nhân làm ra chừng 51% GDP, nộp hơn 30% ngân sách nhà nước, và tạo ra việc làm cho hơn bốn mươi triệu con người, tức khoảng 82% lực lượng lao động cả nước. Cái tên là xã hội chủ nghĩa; vậy thì bốn phần năm người lao động thì vô danh trong chính cái xã hội ấy.
51% ấy là khu vực tư nhân hiểu theo nghĩa rộng nhất. Nó gộp trong đó mấy triệu hộ kinh doanh, mà riêng khối hộ cá thể đã chiếm chừng 30% GDP, cùng với các doanh nghiệp tư nhân có đăng ký, mà phần đăng ký chính danh chỉ tầm 10 đến 13%. Một nửa nền kinh tế ở đất nước này là do hàng chục triệu người bày sạp hàng ngoài chợ, cày mảnh ruộng khoán, mở cái xưởng sau nhà, chạy chiếc xe chở thuê, hoặc là đi làm thuê, tất cả cộng gộp lại mà thành. Nó là một số đông không tên.
Khi chúng ta trải cái biểu đồ đóng góp của những khu vực kinh tế, một bức tranh khác hiện ra, cũng bi hài. Có một phần năm thuộc về nhà nước. Công ty vốn chủ sở hữu nước ngoài thì cũng tầm ấy, còn lại là phần của tư nhân. Cái khu vực treo khuôn mặt của xã hội chủ nghĩa lại là cái khiêm tốn nhất trong cả ba.
Doanh nghiệp nhà nước đã teo lại còn khoảng một phần năm đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội. Tôi cũng không trông mong rằng nó sẽ mở rộng ra thêm nữa. Nhưng ở những chỗ nó còn làm ăn thì nó chơi một mình: điện thì nhớ tới EVN, xăng dầu bán lẻ thì khoảng 84% qua Petrolimex và PVN, còn thuê bao di động thì do ba ông lớn Viettel, Mobifone và Vinaphone hậm hè với nhau. Chỉ riêng những ông lớn ở trên đã đóng góp đâu đó gần một nửa doanh thu của cả khu vực nhà nước. Định hướng, ở cách đọc này đang ràng buộc ba thứ: độc quyền chính trị của Đảng là bất khả xâm phạm; đất đai vẫn là sở hữu toàn dân, không ai được sở hữu vĩnh viễn mảnh ruộng mình cày hay căn nhà mình dựng, nhà nước đang chỉ cho anh thuê lại; còn doanh nghiệp nhà nước thì giữ cái gọi là vai trò chủ đạo ở dăm ba ngành trọng yếu. Còn thứ nó không đụng vào, là cái tăng trưởng.
Một thị trường cạnh tranh thì liên tục giết chính những mô hình độc quyền do nó đẻ ra; nghĩa địa doanh nghiệp chất đầy những cái tên một thời tưởng là bất khả chiến bại. Chỉ có một loại độc quyền mà cạnh tranh không đụng tới được, là độc quyền công, bởi quyền lực nhà nước cấm kẻ khác bước vào tranh đoạt với nó. Cho nên những độc quyền bền nhất ở Việt Nam đúng là những cái tên vừa gọi. Chúng đứng vững nhờ một lẽ giản dị: luật không cho phép ai được thua chúng. Cái thân thể xã hội chủ nghĩa còn sót lại, khi xét đến tận cùng, là một dãy độc quyền công mà thị trường bị cấm không được giải thể; và chữ định hướng chính là hàng rào dựng quanh cái độc quyền tài khóa đó. Nhà kinh tế trong nước phải tụng cho to tròn câu định hướng của nhà nước mới mong được yên thân; người lưu vong bên kia bờ đại dương thì sốt ruột muốn gọi thẳng nó là chủ nghĩa tư bản cho xong. Cả hai thứ đó đều đang thiếu. Thứ đang thật sự vận hành là một nền kinh tế thị trường bị quây bằng dăm độc quyền công rồi khoác trên mình một cái tên xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế đang gánh cái tên ấy sinh ra từ một tội. Một đêm tháng 12 năm 1978, ở làng Tiểu Cương thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc, có 18 nông dân họp lén trong đêm rồi chia mảnh đất tập thể thành ruộng khoán cho từng hộ. Họ thảo ra một tờ giao kèo, lăn tay điểm chỉ lên đó, và giao ước với nhau rằng nếu ai trong bọn bị bắt đem đi xử tử, những người còn lại sẽ chăm sóc con của người ấy cho đến tuổi trưởng thành. Chỉ là chia nhau mảnh ruộng mà đã tính sẵn đường khi cái chết đến. Ngôi làng ấy từng có hơn sáu chục người chết đói; còn vụ mùa ngay sau tờ giao kèo được kí thì lại thu về nhiều hơn cả năm năm trước đó cộng lại. Cái tội nghiệt này thì Việt Nam còn phạm phải trước Trung Quốc cả một giáp. Năm 1966, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc khi ấy là Kim Ngọc, đem ruộng khoán về cho từng hộ. Sản lượng lúa tăng ngay lập tức, từ hai tấn rưỡi một hecta vọt lên năm tấn, có nơi tận bảy tấn. Chưa đầy hai năm sau, khoán hộ bị lên án là “khôi phục kinh tế cá thể tư bản chủ nghĩa”, đi ngược lại đường lối hợp tác hóa; riêng Kim Ngọc bị buộc phải kiểm điểm, tự phê bình, còn khoán hộ bị dẹp bỏ. Ông chết năm 1979, còn chưa kịp được phục hồi danh dự. Chín năm sau cái chết của Kim Ngọc, đúng cái ý tưởng mà người ta từng bắt ông nhận là tội nghiệt đã trở thành chính sách của chính cái Đảng đã kết tội ông: Khoán 10 ra đời năm 1988 đã cởi trói cho người nông dân, và chỉ trong vòng một năm đưa Việt Nam từ nước ngửa tay xin gạo thành nước đi bán gạo cho thiên hạ.
Hai nền nông dân xã hội chủ nghĩa, cách nhau chỉ hơn một thập niên, đã ra sức đả phá cùng một điều luật để phục hồi cùng một động cơ tầm thường nhất trần đời: cho người ta giữ lấy phần dôi thừa của chính bàn tay mình. Cả hai chế độ, sau khi trừng phạt cái động cơ ấy, đều quay lại nhặt nó lên làm chính sách, rồi biến cái tội trong quá khứ thành công lao của mình. Kim Ngọc, người từng phải cúi đầu tự nhận tội, về sau được nhà nước truy tặng huân chương. Học thuyết đã bị trục xuất khỏi nền kinh tế, bởi chính bàn tay đám nông dân mà nó nhân danh. Cái còn lại chỉ còn là câu bùa mê: nó chẳng điều hành cỗ máy nào, nó quây lấy độc quyền tài khóa và giữ thể diện cho người cầm quyền. Một cái tên bị đuổi khỏi nơi nó từng trị vì mà người ta vẫn không chịu buông bỏ hẳn, thì chắc chắn phải được giữ lại vì một lẽ nào đó. Cái lẽ ấy thị trường không cung cấp được.
Chỉ có thể là tính chính danh. Nó có thể nâng cả một dân tộc giàu lên, nhưng không đi kèm theo cái quyền được cai trị dân tộc ấy; còn câu hỏi vì sao đảng cầm quyền lại có tư cách cầm quyền thì không một con số tăng trưởng nào trả lời. Ở một xứ mà lá phiếu dường như chỉ còn quy giản về tính nghi lễ, thứ còn lại để trao đi sự chính danh là lời hứa chủ nghĩa xã hội đã dựng nên chế độ. Danh xưng đó ở lại lâu đến vậy là vì nó là tờ khế ước sau chót của quyền lực, chứ chẳng vì nó đụng chạm gì vào nền kinh tế.
Vì thế mà câu định hướng xã hội chủ nghĩa không có mục tiêu phải điều khiển tăng trưởng; việc nó cần làm là chỉ rào lại những thứ tăng trưởng không đụng tới. Thế độc quyền chính trị của Đảng nằm ngoài mọi cuộc mặc cả; cái danh xưng, trước hết, là hàng rào xung quanh nó. Một học thuyết mà cả một thế hệ đã nằm xuống vì nó thì không thể chỉ gọi là một sự hiểu lầm được; vì nếu câu ấy được thốt ra, thì câu tiếp theo sẽ là vì sao phải đổ tới ngần ấy máu. Cái danh xưng, cái tên, sau cùng là một tuyên bố về quyền lực đội lốt một mô tả kinh tế.
Việt Nam gọi cái thị trường của mình là xã hội chủ nghĩa. Cùng lúc đó, người giàu nhất nước ta là Phạm Nhật Vượng. Ông làm ra gia tài đầu tiên bằng gói mì ăn liền Mivina ở Ukraine thời hậu Soviet cùng với những tranh cãi thu tiền bảo kê ăn chặn đồng bào hải ngoại, rồi mang tiền về dựng Vingroup: địa ốc Vinhomes, bán lẻ Vincom, nghỉ dưỡng Vinpearl, rồi xe hơi VinFast. Cùng với gia đình, ông nắm chừng hai phần ba tập đoàn, tài sản đo bằng vài chục tỷ đô la. Đi cùng với sự phát triển của Vingroup là vô số điều tiếng mà mỗi lần ông hay công ty của ông thực hiện một bước đi nào, tranh cãi vẫn sẽ nổ ra. Chaebol Việt Nam. Tư bản đỏ. Tư bản đầu sỏ. Chính cái đế chế bất động sản và hàng tiêu dùng ấy là phần tăng trưởng mà định hướng xã hội chủ nghĩa nhận về như thành tựu của mình.
Còn Thụy Điển làm điều ngược lại. Họ để yên cho thế giới gọi mình là xã hội chủ nghĩa, trong khi nhà tư bản tiêu biểu nhất của chính họ lại sống nửa đời người ở nước ngoài để tránh thuế và chỉ hồi hương khi nhà nước thuế khóa phải nhượng bộ.
Song mô hình mà Bắc Âu đem tới hóa ra lại không dễ bị gạt khỏi cái danh xưng chủ nghĩa xã hội đến thế; người bênh vực nó có trong tay luận cứ đáng nể nhất mà phe chủ nghĩa xã hội (thật sự) từng đưa ra. Trong cuốn The Three Worlds of Welfare Capitalism, Gøsta Esping-Andersen đã lập luận rằng chế độ dân chủ xã hội (social democracy) mà Bắc Âu đang vận hành là một loại hình riêng biệt chứ không phải là phiên bản tinh chế của những nền dân trị khác như Anh hay Hoa Kỳ. Cái cốt lõi của nó là decommodification, tức sự giải trừ hàng hóa tính: đó là mức độ mà những nhu cầu căn bản của con người được che đậy khỏi biến động của thị trường. Mục tiêu cốt lõi, theo như ông, là “giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào thị trường”. Ở những nước Bắc Âu, quyền được chữa bệnh, được đến trường, nuôi con, hay nghỉ hưu dưỡng già, tất cả chúng đều không dựa trên chuyện tháng này lương bạn bao nhiêu, hay đã bán đi bao nhiêu giờ lao động của bản thân rồi.
Nhưng cũng chính những học giả có cảm tình với mô hình này nhất cũng là những người chỉ ra chỗ bất cập của nó. Họ thừa nhận rằng Bắc Âu “chưa bao giờ dừng là chủ nghĩa tư bản… về cốt lõi vẫn là tư bản chủ nghĩa”. Giải trừ hàng hóa tính đến lúc này, không phải là công cụ để xóa đi cái thị trường; trái lại, nó dùng tiền thuế đi mua lại một phần của cái an toàn mà thị trường vốn định giá. Con đường thứ ba giờ đây hóa ra là một nền kinh tế thị trường vận hành cùng với sự tái phân phối: nó điều chỉnh cái tỷ lệ giữa thị trường và sự bồi hoàn lại cho cộng đồng, chứ chớ hề động tới bản thân cái chủ nghĩa.
Những lời bảo vệ dõng dạc nhất cho cái gọi là chủ nghĩa xã hội vận hành được, khi chúng ta đưa phát biểu ấy đi đến tận cùng, lại xác nhận đúng cái điều mình đang gắng bác bỏ. Không có một ngoại lệ nào trong câu chuyện điều chỉnh tỉ lệ trong ống nghiệm; những người phản đối mạnh mẽ nhất cho đến cuối cùng, cũng chỉ đang tinh chỉnh cái tỉ lệ ấy như tất cả những kẻ khác.
Nếu câu chuyện sau rốt cũng chỉ quy về việc tinh chỉnh cái tỉ lệ ấy, thì vẫn còn một câu hỏi còn mở - mặc cho chuyện thị trường đang thắng thế rõ ràng nếu xét đến khối lượng của cải đồ sộ mà nó đem đến. Những xã hội đi xa nhất trên con đường giải trừ hàng hóa tính, đã sung túc và an toàn bậc nhất thế giới ấy, cũng là những xã hội thiếu vắng tiếng cười nói của trẻ con và cũng cô quạnh vào hàng nhất đẳng.
Thị trường luôn trả đủ những gì nó hứa. Hai thế kỉ trước, có đến chín trên mười người ở bất kì đâu trên thế giới sống trong cảnh khốn cùng; nay con số ấy chỉ còn dưới phần mười. Việt Nam đi trên con đường đó chỉ trong một đời người. Thu nhập bình quân đầu người từ thời điểm bắt đầu Đổi Mới cho đến nay cũng đã tăng ngót bảy lần. Chính cái xứ mỗi sáng còn chen lấn xếp hàng trước quầy mậu dịch mong lấy được một dây thịt nhiều mỡ để tiện thắng mỡ, chỉ sau một năm cởi trói kinh tế, đã lập tức xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo, rồi ít lâu sau đó cũng có tỉ phú đô la đầu tiên của mình. Mọi lời hứa của cỗ máy tư bản đều ứng nghiệm, mặc cho những lời hứa của những học thuyết chính trị cũ thì không được vậy và dần chìm vào trong niềm vui sướng về sự thoát nghèo.
Giờ thì của cải đã về túi của mình rồi, thoát nghèo rồi, và những kẻ may mắn nhận lãnh nó đáp lại bằng hai việc. Xếp va li lên và thôi sinh con nữa.
Câu chuyện sụt giảm tỉ suất sinh ở Việt Nam thì chúng ta đã từng bàn qua rồi. Nhưng cùng lúc đó, một phần những người vừa giàu lên đang thu dọn hành lý. Năm 2024, lần đầu tiên Việt Nam lọt vào nhóm mười nước có dòng triệu phú đô la ra đi đông nhất thế giới: gần ba trăm người dứt áo ra đi trong chỉ một năm. Của cải trong nước vẫn sinh sôi nhanh hơn con số ấy, tất nhiên; quốc gia vẫn đang giàu thêm từng ngày. Cái chúng ta đang muốn hướng ánh nhìn là thái độ. Những kẻ nếm trái ngọt của giàu sang sớm nhất lại là những người lấy chính cái giàu đó để mua lấy một lối thoát, một nơi để mà khi về già không phải là xứ này, và một tấm hộ chiếu mạnh hơn cái mà hiện tại chỉ mở cửa cho chừng sáu phần trăm nền kinh tế thế giới.
Cái dư giả thì mua được cái ăn cái mặc, ăn ngon mặc đẹp, rồi lại mua thêm cái giấy thông hành bằng những thứ họ mang trên người, đo cái giá trị của họ qua cái xe họ lái và cái khu họ ở. Nhưng nó không mua được một lý do để ở lại, hay mua được một mối liên hệ đủ bền chặt để người ta muốn giữ con cháu mình ở lại chính cái nơi đã làm mình phất lên. Nhà nước thì cứ giữ khư cái danh xã hội chủ nghĩa chính là vì thị trường không thể cung cấp được cái chính danh tự thân. Nhưng rồi đến lượt mình thì họ cũng chẳng thể làm gì hơn. Cái danh xưng thì có thể rào lại bằng độc quyền và giữ được thể diện cho giới lãnh đạo, còn thứ quan trọng là ý nghĩa thì vẫn vậy, bỏ trống.
Những ý kiến chống tư bản chủ nghĩa sẽ lập luận rằng chính thị trường là thứ sinh ra những khoảng trống ấy. Nó tóm lấy một cơn đói rất chính đang, cơn đói ý nghĩa, rồi dốc đầy vào họng bằng tiêu dùng. Nó có ý đúng. Cơn đói chính đáng, và thị trường chỉ có thể chỉ trả lời bằng mua bán, bằng tiêu thụ. Nhưng phe lên án sẽ không dừng lại tại đó. Họ sẽ chỉ ra những nơi mà ý nghĩa có thể tuôn ra: một cộng đồng đủ để người ta có cảm giác là một phần ở trong nó, cái lễ nghi và quyền uy thừa hưởng từ đời trước, cái nghiêm cẩn của một nghề, cái bổn phận ràng buộc lẫn nhau dưới cảnh thiếu thốn, và trên hết, là cái thiêng. Về nguồn cội, rất có thể họ đang đúng. Xưa nay, con người vẫn kính múc ý nghĩa từ những mạch nguồn ấy. Song chỉ được chỗ cái giếng ở đâu không có nghĩa là bạn múc lại được nước. Mỗi mạch đều cần dựa trên một điều kiện nhất định mà chính sự thịnh vượng này đã hòa tan: một cộng đồng không thể tự đứng ra mặt được, một quyền lực không do mình lựa chọn, hay một cảnh khan hiếm khiến người ta cần nhau. Đợt COVID-19 có lẽ là một tình huống tồi tệ nhất để có thể lấy ra làm ví dụ; nhưng chỉ khi đó con người mới bắt đầu dựa dẫm vào nhau, và đó là khi chính những nguyên tắc vận hành của thị trường bị kìm kẹp. Chưa một ai, dù đứng ở bên nào, có thể chỉ ra được cái khơi lại cái suối nguồn đó khi bản thân họ cũng chẳng cần đụng vào nó làm gì.
Khoảng trống ấy chẳng phải là một trường hợp chỉ xuất hiện ở phương Đông độc đoán. Cái tủ kính mà những người ra sức bảo vệ cho mô hình ở Bắc Âu vẫn hay trưng ra cũng có cùng những vấn đề ấy. Ở những xã hội đã giải trừ hàng hóa tính đến tận cùng đã mua cho công dân mình trọn vẹn cái an toàn, cái đầy đủ đến hàng tốt nhất mà loài người có thể làm, cũng là những xã hội thu hẹp lại phần đáy trong tháp dân số và có tỉ lệ người sống cô đơn cũng thuộc hàng cao nhất thế giới. Cái chủ nghĩa tư bản độc đoán ở phương Đông và nền dân chủ xã hội tự do Bắc Âu, vốn đối nghịch nhau ở gần như mọi phát kiến tổ chức xã hội, lại đang cùng chia sẻ với nhau một điểm chung, vào cùng một thời điểm. Kẻ không đặt đời mình vào vụ cược liệu thí nghiệm xã hội nào mới đúng thì may ra có thể trông được cái vết nứt này vừa nhau thế nào. Con người không sống được bằng cái tỉ lệ thị trường và nhà nước; còn một dân tộc không thể cứ mãi là một dân tộc chỉ nhờ chỉnh cho đúng cái liều lượng ấy.
Thị trường đã thắng chính cái cuộc tranh luận mà nó nhảy vào: nhà nước hay thị trường, là kế hoạch hóa hay để giá cả tự do. Chiến thắng ấy tuyệt đối, còn cái nó để thua là một cuộc tranh luận khác, cái mà nó còn chẳng hay mình bị kéo vào. Trăm năm loài người đổ máu để giành giật phần thắng cho cái chủ nghĩa; rồi khi đào xới xuống tận đáy thì xét cho cùng, cũng chỉ là một cái tỉ lệ. Cái tỉ lệ ấy làm được mọi điều: nó kéo hàng tỷ người ra khỏi cái đói, nó dựng nên những thành phố, nó mang đến cho thế giới thứ của cải mà vua chúa thời xưa còn không dám nằm mơ tới. Chỉ có đúng một thứ nó không thể làm ra nổi, là cái khiến một dân tộc còn muốn tiếp tục là một dân tộc. Chính tại đó, thị trường và những kẻ thù truyền kiếp của nó, tận đến hôm nay, chưa bên nào biết thứ ấy sẽ được mang trở về như thế nào.
Cảm ơn bạn đã đọc. Đây là bài viết cuối cùng trong bộ ba bài viết về chủ nghĩa tư bản của kênh. Hi vọng sẽ tiếp tục đồng hành với bạn đọc trong những series tiếp theo.


