Có một câu ở phần cuối tập một bộ Tư bản luận thường bị trích cụt đi một nửa, khi Marx đang nói về cuộc tước đoạt đã biến người nông dân châu Âu thành kẻ làm thuê tự do: lịch sử của nó, ông viết, “được viết vào biên niên sử loài người bằng máu và lửa”. Người đọc nhanh thì thường giữ lại máu và lửa, rồi bỏ mất mấy chữ đứng trước. Biên niên sử loài người. Marx không nói về một tai nạn, hay một sự tàn bạo lẻ tẻ ở một hốc bò tó nào đó trong quá khứ. Ông nói tới những trang sử được ghi chính thức vào sách vở, có ngày tháng, người chép rõ ràng.
Thế kỷ mười chín viết nên những thiên tụng ca về tiến bộ. Nhà máy mọc lên được ví như phép lạ; đường sắt, điện tín, sản lượng gang thép được dẫn ra như bằng chứng của một nhân loại đang đi lên. Giữa dàn đồng ca ấy, Marx là kẻ cúi xuống nhìn cái nền móng mà toàn bộ công trình đang đứng trên. Cái ông lột trần là một câu chuyện cổ tích mà khoa kinh tế chính trị vẫn kể: trong câu chuyện của họ, sự tích lũy ban đầu đóng đúng vai trò của tội tổ tông trong thần học. Thuở xưa có hai hạng người, một hạng cần cù và biết dành dụm, hạng còn lại thì lười biếng phung phí; hạng thứ nhất tích được của cải, hạng thứ hai rốt cuộc chẳng còn gì để bán ngoài chính tấm thân mình. Marx bảo hãy nhìn vào sử liệu: của cải ban đầu ấy không đến từ đức cần kiệm, nó đến từ chinh phục, nô dịch, cướp đoạt, và đến tận cùng, là giết chóc. Không một nhà kinh tế đáng kính nào của thời ấy nhìn thẳng như ông vào cái nền móng đẫm máu dưới tòa nhà mình đang ngợi ca. Ông là nhà chẩn bệnh vĩ đại nhất của thế kỷ, và ở phần chẩn bệnh ấy ông gần như không hề sai.
Câu văn trứ danh nhất của ông về chuyện này nằm trong chương bàn về sự ra đời của nhà tư bản công nghiệp. Ban đầu Marx mượn nhận định của Augier: đồng tiền “chào đời với một vết máu bẩm sinh trên má”. Rồi từ đó ông đẩy hình ảnh đi xa hơn. Nếu đồng tiền chỉ mang một vết trên má, thì tư bản, ông viết, “từ đầu tới chân, từ mọi lỗ chân lông, rịn ra máu và bụi bẩn”.
Ông kể lại chuyện rào đất vốn là của chung ở nước Anh: những mảnh đất mà làng xã đã cày cấy chung qua bao đời bị biến thành sở hữu tư, còn người cày bị đẩy ra khỏi mảnh đất vốn nuôi sống mình. Giai đoạn cuối của cuộc tước đoạt ấy, Marx gọi là việc dọn sạch điền trang, nghĩa là quét sạch con người ra khỏi đất, để lấy chỗ cho cừu và cho săn bắn. Còn với đám người bị đẩy đi, họ không có đất đặng cày cấy, không nghề ngỗng, chỉ còn biết lang thang trên các nẻo đường, liền bị chính pháp luật trừng trị vì cái tội lang thang mà pháp luật vừa tạo ra cho họ. Marx liệt kê từng đạo luật một. Dưới thời Henry VIII, kẻ lang thang bị trói vào đuôi xe bò và bị đánh cho tới khi máu chảy ròng ròng khỏi thân thể. Dưới thời Edward VI, kẻ trốn việc bị đóng lên người một chữ bằng sắt nung đỏ. Xa hơn nước Anh là hệ thống thuộc địa: vàng bạc vơ vét từ châu Mỹ, tận diệt và bắt dân bản địa làm nô lệ, và công cuộc cướp phá đất Ấn. Không một điều nào trong số đó là phóng đại. Đó là mô tả trung thực về bạo lực có thật, và Marx nhìn thẳng vào nó hơn gần như bất cứ ai cùng thời.
Rồi từng khoản trong danh sách cáo trạng ấy khi đặt cạnh nhau, chúng hiện ra cùng một hình dạng. Việc rào đất chung được thi hành qua các Đạo luật rào đất của Nghị viện; Marx gọi thẳng đó là hình thức nghị viện của cuộc cướp bóc, những sắc lệnh mà nhờ đó giới địa chủ tự ban đất của dân cho chính mình. Kẻ lang thang bị trói vào đuôi xe bò theo luật của Henry VIII, bị đóng dấu sắt nung theo luật của Edward VI. Công ty Đông Ấn vơ được cả tiểu lục địa nhờ đặc quyền độc quyền mà vương quyền cấp cho nó. Nợ công, chế độ thuế khóa hiện đại, chế độ bảo hộ mậu dịch: mỗi món đứng trong danh mục tội ác của Marx đều là một công cụ của quyền lực nhà nước. Mỗi tội ác được nêu tên là một văn bản có con triện, sau mỗi con triện là một bàn tay có chủ quyền.
Marx không để điều đó cho suy diễn. Trong 31 của Tư bản luận, khi gom lại những phương pháp đã nặn ra nhà tư bản công nghiệp, các thuộc địa, nợ công, lối đánh thuế hiện đại, chế độ bảo hộ mậu dịch, ông viết một câu mà những kẻ trích ông để luận tội thị trường thường bước vòng qua. Các phương pháp ấy, ông nói, “đều sử dụng quyền lực Nhà nước, sức mạnh tập trung và có tổ chức của xã hội, để thúc nhanh, theo lối nhà kính, quá trình chuyển hóa phương thức sản xuất phong kiến thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, và rút ngắn bước quá độ”. Rồi sau đó mới đến kết luận đóng lại chương:
“Bạo lực là bà đỡ của mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới. Bản thân nó là một sức mạnh kinh tế.”
Bà đỡ trong câu ấy có một danh tính rất cụ thể, nhà nước.
Bốn công cụ ông vừa nêu ra làm thành bộ đồ nghề cổ điển của nhà nước trọng thương. Thuộc địa được chiếm và được giữ bằng hạm đội và quân đội của triều đình. Nợ công là lời hứa trả nợ của kẻ có chủ quyền, được bảo chứng bằng chính cái quyền thu thuế mà y nắm trong tay. Thuế khóa thì khỏi phải bàn; còn hàng rào bảo hộ là một mệnh lệnh: thứ này được vào, cái kia bị chặn, ngành này được nuôi lớn, ngành kia sống chết mặc bay. Bốn thứ ấy gộp lại phác ra chân dung một quyền lực tự tay chọn sẵn kẻ thắng người thua, ra lệnh cho của cải chảy vào túi ai. Chính bàn tay ấy đang vận hành trong những trang đẫm máu nhất của Marx.
Hãy đọc lại từng dòng cáo trạng và hỏi bàn tay nào đã thi hành. Việc rào đất công, hành vi khai sinh của nền nông nghiệp tư bản Anh, được thực hiện bằng luật: Marx gọi thẳng nó là “hình thức nghị viện của cuộc cướp bóc,” những đạo luật mà qua đó bọn địa chủ tự ban cho mình đất của dân dưới danh nghĩa tư sản. Người nông dân bị quét khỏi ruộng, khi đã thành kẻ lang thang, lại bị chính nhà nước ấy trừng trị bằng một đạo luật khác. Công ty Đông Ấn nắm cả quyền cai trị Ấn Độ lẫn cái mà Marx gọi là độc quyền tuyệt đối về buôn trà, nhờ một đặc quyền đóng dấu triện hoàng gia. Và cái mà ông gọi là nền thống trị của nhà băng: nó khởi phát từ khi Ngân hàng Anh được thành lập năm 1694. Còn nợ công, theo lời ông, là “một trong những đòn bẩy mạnh nhất của tích lũy nguyên thủy,” thứ “ban cho đồng tiền cằn cỗi khả năng sinh sản” như một cái phất tay phù thủy.
Mỗi dòng trong bản cáo trạng là một hành vi của kẻ nắm giữ chủ quyền. Người chẩn bệnh bắt trúng căn bệnh và rồi ghi nhầm tên bị cáo. Bản án ông đọc lên đầu tư bản, chiếu theo chứng cứ của chính ông, là bản án dành cho cái nhà nước đã đỡ đầu cho nó.
Ông rõ ràng đã thấy tất cả những điều đó, thế rồi ông kê đơn. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi Marx và Engels liệt kê mười biện pháp mà giai cấp vô sản một khi giành được chính quyền sẽ đem thi hành, cái danh mục ấy lặp lại bản cáo trạng vừa đọc xong, lần này được chép dưới dạng một cương lĩnh giải phóng.
Khoản năm: “Tập trung tín dụng vào tay nhà nước bằng một ngân hàng quốc gia với tư bản nhà nước và độc quyền tuyệt đối”. Độc quyền tuyệt đối, chính là thứ vừa dùng để gọi tội của Công ty Đông Ấn; giờ lại được xướng lên như một lời giải. Cái độc quyền ngân hàng trọng thương mà Marx đã truy nguyên về năm 1694 và đã xếp vào hàng tội tổ tông, giờ quay lại làm điều khoản số năm của đơn thuốc; khi trước nó chỉ bao trùm việc buôn trà và việc vay của triều đình, lần này nó bao luôn toàn bộ tín dụng của xã hội. Khoản sáu đòi “tập trung mọi phương tiện giao thông và vận tải vào tay nhà nước”, lại đúng thứ độc quyền vận tải mà vương quyền xưa vẫn đem phân phong. Khoản bảy đòi mở rộng các công xưởng và công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, khai khẩn đất hoang và cải tạo đất đai theo một kế hoạch chung. Và khoản một, đặt ngay đầu danh sách, đòi thủ tiêu quyền tư hữu ruộng đất. Cùng một thứ quyền lực chủ quyền mà chương 31 kịch liệt lên án khi nó rào đất, đánh thuế, khi nó vay nợ trên lưng dân, hay khi nó cấp đặc quyền độc quyền, giờ được đem ra áp dụng cho tất cả: một chủ duy nhất nắm trọn ruộng đất, tín dụng, vận tải và sản xuất, điều hành tất cả theo một kế hoạch chung.
Chủ nghĩa trọng thương từng bị kết án vì đặt quyền lực nhà nước lên trên thị trường để cưỡng bức kết cục. Lời giải của Marx không xóa bỏ nguyên tắc đó, thậm chí nó nâng nguyên tắc đó lên thành phổ quát: chỗ trước kia có nhiều độc quyền do vương quyền phân phong, giờ chỉ còn một độc quyền, và kẻ nắm nó là nhà nước. Bản cáo trạng và toa thuốc rốt cuộc là cùng một danh sách những quyền lực chủ quyền: lần đầu đọc lên như tội ác khai sinh, lần sau thì được chép lại như con đường cứu rỗi.
Năm 1953, Hồ Chí Minh ký ban hành Luật Cải cách Ruộng đất; và trong hơn hai năm sau đó, trên khắp 3.314 xã của miền Bắc, toa thuốc được đem ra thi hành đúng theo đơn đã kê. Nhà nước làm cái việc mà Tuyên ngôn đã giao cho nó: thủ tiêu quyền tư hữu ruộng đất, trước là của “địa chủ”, sau là với tất cả, chia lại đất đai theo một kế hoạch chung.
Nhưng muốn chia lại đất của địa chủ thì trước hết phải biết ai là địa chủ. Và cái biết ấy là thứ không một quyền lực trung ương nào nắm được, vì nó nằm trong từng làng. Ai giàu thật, ai chỉ hơn hàng xóm vài sào ruộng, ai cho vay nặng lãi, ai được vị nể vì những lý do chẳng dính gì đến ruộng đất: những điều ấy chỉ người trong làng mới biết, và và cái biết này thì không thể đóng gói được thành một bản kê để báo cáo lên trên.
Không có cái biết ấy, nhà nước thay nó bằng một con số. Mỗi xã được ước lượng phải tìm cho ra chừng 5% dân số là địa chủ. Trên toàn miền Bắc, 5,68% dân cư bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, một tỉ lệ mà về sau chính bộ Lịch sử Kinh tế Việt Nam phải nhìn nhận là quá cao so với tình hình thực tế. Nhưng định mức đã đặt ra rồi, và đội cải cách phải lấp cho đầy. Nơi nào không đủ địa chủ thật thì người ta nặn thêm cho đủ, bằng cái thao tác mà chiến dịch gọi là kích thành phần: kích một trung nông lên phú nông, kích một phú nông lên địa chủ, cho tới khi con số trong làng khớp với con số trên giấy. Về sau, khi đợt sửa sai kiểm lại, hơn hai phần ba trong số 172.008 con người từng bị quy địa chủ được chính quyền xác nhận là quy sai. Một ông lý trưởng trong tay chưa đầy một nửa hecta ruộng vẫn bị lôi ra đấu tố là địa chủ cường hào gian ác.
Cả cái chết cũng được ấn định trước bằng một tỉ lệ. Chỉ thị của Bộ Chính trị tháng Năm 1953 định số người phải bị xử bắn về nguyên tắc là ở mức một phần ngàn dân số. Con số ấy được quyết định ở Hà Nội trước khi bất kỳ ai trong làng bị gọi tên điều tra.
Còn bao nhiêu người thật sự bị bắn, thì đến nay vẫn chưa ai có con số chắc chắn. 172.008 là số người bị quy thành phần, không phải số người bị giết. Nhà nước thì gắng lấp con số thật xuống; bên tuyên truyền chống cộng thì thổi nó lên tới nửa triệu. Các sử gia nghiêm túc đặt số người bị hành quyết trong khoảng từ vài ngàn tới chừng mười lăm ngàn; mức sàn thấp nhất, đếm từ văn khố Hungary, là 1.337 vụ hành quyết cùng 23.748 vụ giam cầm. Con số phóng đại xúc phạm sự thật không kém gì sự im lặng của nhà nước. Mà sự thật thì không cần phóng đại.
Người bị chiến dịch đem ra bắn tế cờ là Nguyễn Thị Năm, hiệu Cát Hanh Long, một nhà buôn ở Thái Nguyên. Bà từng nuôi giấu cán bộ, và trong Tuần lễ Vàng đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền non trẻ. Tháng Bảy năm 1953, cách mạng đem xử tử người đã cấp vốn cho nó, trước khi bắn bất kỳ kẻ thù nào của nó.
Người bị tố bị lôi ra trước một tòa án nhân dân đặc biệt gồm phần đông là bần cố nông; bản án đi sau lời tố, và thường chỉ dựa trên lời tố. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trong bài nói trước Mặt trận Tổ quốc vào tháng Mười 1956, gọi đúng tên cái nguyên tắc vận hành của cả chiến dịch: “thà giết nhầm mười người vô tội còn hơn để sót một kẻ địch”. Ông bảo đó là sự phủ định của chính ý niệm pháp quyền.
Nhưng cải cách ruộng đất không dừng ở chuyện chia lại ruộng. Mục tiêu mà nó tự tuyên bố là đập cho vỡ tầng lớp kỳ mục, hương chức vốn cai quản làng xã qua cái đình. Cái đình sống được là nhờ công điền, phần ruộng chung của làng mà hoa lợi dùng vào việc tế tự và thờ thành hoàng. Cải cách đem công điền chia ra; rồi hợp tác hóa thu nốt phần còn lại vào của chung. Rút cạn công điền, cái đình mất đi nguồn nuôi dưỡng. Cùng lúc đó, chiến dịch bài trừ mê tín dị đoan dẹp các lễ ở đình và cấm thờ thành hoàng. Nhà nhân học Shaun Malarney, trong công trình điền dã ở xã Thịnh Liệt, chép lại chuyện này: đám dân chài trong làng, vốn oán cái trật tự tôn ti mà ngôi đình dựng lên, đã kéo đổ một ngôi đình và lấy chính gỗ của nó về dựng nhà cho mình.
Chính nhà nước, chứ chẳng phải cái chợ, đã kéo đổ cái đình. Cùng với đình, nó kéo đổ luôn cả những mối ràng buộc xưa cũ mà ngôi đình làm trung tâm: tục họp hương, lễ tế thành hoàng, phân xử của kỳ mục, công điền nuôi tự quản, những mối nghĩa rất thân thuộc giữa người với người trong một làng. Một thế hệ người Việt không còn biết những thứ ấy có thể vận hành ngoài nhà nước. Cái chợ đến sau, sau cải hàng chục năm, và chỉ việc dựng lên trên cái nền đã bị dọn sẵn, cái nền đã có người khác ủi sạch cho.
Toa thuốc của Marx đòi nhà nước biết cái điều cá biệt nhất khi ấy: ai là địa chủ ở cái làng này. Không biết được, hệ thống bịa ra địa chủ cho đủ định mức. Điều nó không đủ sức biết, nó lấp cho đầy bằng máu.
Người nông dân miền Bắc đón nhận công cuộc cách mạng của Marx, diễn giải qua những Lenin rồi Mao, rồi ít năm sau nhận cái đói mà công cuộc tập thể hóa mang tới. Nhưng những kẻ kê toa thuốc ấy, những kẻ xuống tận làng để thi hành nó, không phải nông dân bị gạt: họ đã đọc từng dòng của lập luận này. Họ đã chọn nó với lòng nhiệt thành.
Lịch sử có thể giải thích được cái nạn đói. Cái đinh mức, hay cỗ máy tòa án nhân dân đặc biệt cũng vậy: chúng đều là hệ quả của quyền lực khi quyền lực với tay tới cái nó không thể biết. Nhưng gương mặt của những người đã viết ra liều thuốc, trong các thư viện của Paris và Berlin và Thượng Hải, rồi gương mặt của những người mang nó xuống tận sân đình, thì không nằm yên trong lời giải ấy. Họ không hề đói. Những trang sách đó, họ đã nghiền ngẫm đủ lâu. Họ hiểu chính xác cái mình đang kê. Và họ chọn với thứ ánh sáng trong mắt mà thường ta chỉ thấy ở người vừa cải đạo.
Raymond Aron viết về chính giai tầng của mình, và ông đặt cho căn bệnh của nó một cái tên mượn thẳng từ Marx. Marx bảo tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng. Aron, nhìn quanh những đồng nghiệp lỗi lạc nhất của thời đại đang cúi đầu về phía Moscow, lật ngược câu ấy: hệ tư tưởng cách mạng là thuốc phiện của giới trí thức. Cuốn sách năm 1955 của ông mang đúng cái tên đó, Thuốc phiện của giới trí thức (The Opium of the Intellectuals). Luận điểm trung tâm không tinh vi, vậy mà cái đơn thuần lại là điểm mạnh của nó. Cải cách từng phần thì nhạt. Nó vá víu, nó chậm, nó thú nhận rằng ngày mai vẫn sẽ khốn khổ gần như hôm nay, chỉ bớt đi một phần. Cách mạng thì có thi ca. Nó hứa giải quyết một lần, dứt điểm. Và người trí thức, vốn chán ngán cái công việc tủn mủn của sửa chữa, bị quyến rũ bởi cái toàn thể, bởi bản thiết kế trọn vẹn.
Thế nên kế hoạch hóa, theo lời Aron, được đón nhận như một phương thuốc chữa dứt cái khốn cùng ngàn đời của loài người. Nó là ơn cứu rỗi đã được thế tục hóa, và người ta ngả vào nó vì lẽ đó, chứ ít khi vì một bảng tính. Từ đó Aron rút ra bức chân dung sắc nhất trong cả cuốn sách: người trí thức tàn nhẫn với mọi khiếm khuyết của các nền dân chủ, mà lại sẵn lòng dung thứ những tội ác tồi tệ nhất, miễn là chúng nhân danh học thuyết đúng đắn. Đó là não trạng của một tín đồ, đó là một tôn giáo thế tục, như cách Aron gọi.
Leszek Kołakowski, khi khép lại ba tập mổ xẻ của mình, đã viết thế này: chủ nghĩa Marx là ảo tưởng vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta, một thứ tôn giáo giả hiệu trình ra cánh chung luận trần thế của nó như thể một hệ thống khoa học.
Khung lập luận được dùng để giải thích vì sao con người sa vào kế hoạch hóa đặt nền tảng trên một giả định về con người. Một sinh thể có lý lẽ, khi được đặt trước cả hai trật tự, một bên là luật lệ tổng quát áp dụng cho mọi người như nhau, một bên là bàn tay điều hướng từng kết quả cụ thể cho từng người, sẽ chọn luật lệ. Theo giả định ấy, kế hoạch hóa là sản phẩm của dốt nát hoặc của cưỡng bức: người ta rơi vào nó vì không nhìn ra lối khác, hoặc là vì bị lùa vào. Thế giới quan ấy cũng là của những người mà Hayek gọi là các tay buôn lại ý tưởng, những kẻ tin rằng chủ nghĩa xã hội là công trình của giới lý thuyết từ lâu trước khi nó kịp thành phong trào của bất kỳ giai cấp nào.
Thế kỷ hai mươi lại trưng ra phản chứng. Một giai tầng có học vấn cao nhất mà thời đại sản sinh ra, được trao toàn bộ lập luận của cả hai phía lẫn cả quyền lựa chọn, đã chọn bàn tay điều hướng, chọn với lòng sốt sắng của một tín đồ. Cơn sốt sắng đó nằm ngoài tầm với của mô hình luật lệ. Mô hình ấy biết cân cái lợi với cái hại, biết tính cái được cái mất; nó không có đơn vị nào để đo cái khao khát được cứu rỗi.
Đứng bên ngoài đức tin ấy thì không ai ngạc nhiên. Cả một giới tinh hoa đã tự nguyện chọn lấy tai họa đẹp đẽ, ngay giữa lúc tự nhận mình tỉnh táo hơn bao giờ hết; và ai từng chứng kiến điều đó đều hiểu rằng cái nền mà khung lập luận trông cậy, cái tính biết lẽ của con người, mỏng manh hơn nhiều so với nó vẫn tưởng.
Những người sốt sắng ấy có sẵn câu trả lời cho việc vì sao lần này sẽ khác. Cái nhà nước mà họ trao vào tay toàn bộ ruộng đất, tín dụng, giao thông và sản xuất sẽ không giữ những thứ đó cho mình. Chỉ là cầm tạm. Xong việc, nó sẽ tự tiêu biến đi.
Lời hứa ấy có gốc rễ sâu trong chính những gì Marx viết, và nó không tùy tiện. Trong Phê phán Cương lĩnh Gotha, Marx viết rằng “giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản là thời kỳ cải biến cách mạng từ cái này sang cái kia. Tương ứng với nó là một thời kỳ quá độ chính trị mà nhà nước không thể là gì khác ngoài nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”. Chữ then chốt là quá độ. Cái nhà nước nắm toàn bộ ruộng đất, tín dụng, giao thông và sản xuất không giữ chúng để giữ mãi; nó cầm chúng như một vật ký thác, cho một kỳ hạn định trước sẽ hết. Engels nói rõ hơn cái kỳ hạn ấy. Trong Chủ nghĩa xã hội: không tưởng và khoa học, việc nhà nước chiếm hữu tư liệu sản xuất nhân danh xã hội “cũng là hành vi độc lập cuối cùng của nó với tư cách một nhà nước”. Rồi nhà nước “không bị thủ tiêu. Nó tự tắt đi”. Cái công thức lừng danh hơn, rằng nhà nước “tự tiêu vong”, đến từ Chống Dühring và duy trì được nhờ Lenin nhắc lại trong Nhà nước và cách mạng năm 1917: cái bị thủ tiêu bằng bạo lực cách mạng là nhà nước tư sản; cái tự tiêu vong sau đó là nhà nước vô sản, cái nửa nhà nước còn sót lại.
Nền chuyên chính vô sản chỉ đạo kết cục cho số đông thay vì cho thiểu số; độc quyền của nó là độc quyền có kỳ hạn, tự thanh lý, dựng nên cốt để phục vụ tất cả. Nó chiếm giữ tạm thời nhằm xóa bỏ giai cấp, và một khi giai cấp đã bị xóa, nó không còn cớ tồn tại nên tự giải thể vào xã hội cộng sản không giai cấp, không nhà nước. Trong một khoảnh khắc, đọc những dòng ấy, người ta gần như tin vào nó. Cái độc quyền Marx lên án ở buổi khai sinh của tư bản và cái độc quyền ông kê làm thuốc, theo lời hứa, thuộc hai loài khác nhau: một đằng vĩnh viễn và vì thiểu số, một đằng tạm thời và vì tất cả. Nếu đúng là vậy, bản án đã đọc nhầm bị cáo.
Và rồi Marx từng có trong tay một dòng lập luận khác, một cách đọc mà chính ông đã viết ra rồi không theo. Mùa xuân năm 1871, công nhân Paris nổi dậy, dựng lên Công xã, và bị đè bẹp trong vòng hai tháng. Marx, trong cuốn Nội chiến ở Pháp viết ngay sau đó, đọc Công xã như một kiểu nhà nước tự quản mà chính công nhân dựng lên, không phải một cỗ máy kế hoạch hóa từ trên xuống mà là một cuộc phá bỏ bộ máy nhà nước cũ, và tự tổ chức một bộ máy từ dưới lên. Ông ghi rõ: tiền lương của quan chức Công xà không được cao hơn tiền lương công nhân; quyền lực bị giải tán xuống các quận; cảnh sát cũ bị giải ngũ, tòa án cũ bị thay. Và điều đáng chú ý nhất: Công xà không quốc hữu hóa ruộng đất, không thiết lập ngân hàng quốc gia, không kế hoạch hóa sản xuất; chúng đều là những biện pháp mà ông đã liệt kê trong Tuyên ngôn năm 1848. Hơn hai thập niên, Marx đã không đi theo con đường mà chính ông đã chứng kiến có kết quả hữu hạn: con đường dẹp bỏ bộ máy nhà nước cũ và tin vào tự quản từ dưới lên, thay vì chiếm lấy cỗ máy ấy rồi vận hành nó. Người thừa kế trực tiếp nhất, Lenin, đã chọn lấy cỗ máy, theo đúng đơn thuốc của Tuyên ngôn chứ không phải định hướng như Công xã.
Nhưng sự tiêu vong không đến.
Cái nhà nước lẽ ra tan biến lại thành chủ sở hữu duy nhất của đúng cái danh sách nó cầm tạm: ruộng đất, tín dụng, giao thông, sản xuất. Milovan Djilas, người từng đứng thứ hai trong hệ thống Nam Tư trước khi nó tống ông vào tù, đã chỉ ra cái mọc lên ngay chỗ nhà nước đáng lẽ biến mất. Trong Giai cấp mới, ông viết rằng giai cấp ấy “gồm những kẻ có đặc quyền và ưu đãi kinh tế nhờ vào độc quyền hành chính mà họ nắm giữ”. Cái bộ máy đáng lẽ tự tắt đi đã sử dụng, hưởng thụ và định đoạt tài sản quốc hữu hóa, sở hữu nó tập thể qua độc quyền của đảng. Nền chuyên chính vô sản không hề tiêu vong; nó kết lại thành một giai cấp sở hữu mới.
Như vậy thì chính tiền đề của lời biện hộ đã bị lịch sử bác bỏ. Nhà nước tự tiêu vong đã không tự thanh lý chính mình; thời kỳ quá độ trở thành một điểm kì dị phía xa chân trời. Cái độc quyền mà Marx kết án ở buổi đầu tư bản được phục dựng ở quy mô tuyệt đối, với một chủ duy nhất và không lối thoát. Người nông dân được hứa sẽ thấy nhà nước lùi khỏi đời mình; thứ ông thấy là nhà nước thành địa chủ độc nhất, chủ nợ độc nhất, người mua độc nhất của từng hạt thóc ông trồng ra. Cái đình đã bị kéo đổ để dọn chỗ cho người chủ ấy, và người chủ ấy không hề có ý định rời đi.
Người ta sẽ nói đó là phản bội cách mạng, rằng thứ chủ nghĩa xã hội thật chưa bao giờ được đem thực hành. Song một kết cục lặp lại ở khắp mọi nơi người ta thử, không chừa lấy một ngoại lệ thì đã thôi là tai nạn. Nó thuộc về bản thiết kế.
Nước Đức cung cấp phép thử điển hình nhất mà thế kỷ 20 có được. Cùng là một dân tộc, một ngôn ngữ, sở hữu chung một nền văn hóa, bị cắt làm đôi năm 1945 và giao cho hai nền kinh tế đối nghịch suốt hơn bốn mươi năm: một bên kế hoạch hóa, một bên thị trường. Biến số duy nhất là chính cái hệ thống, dù hai bên không thật sự độc lập khỏi các cường quốc lớn hơn đang kềm chế cả hai. Khi Bức tường sụp năm 1989, quá nửa số xe hơi ở Đông Đức là Trabant, và một công dân bình thường phải chờ ít nhất một giáp mới mua được một chiếc. Chiếc Trabant chính là bản án hữu hình của liều thuốc. Và trên cùng phía kế hoạch của cuốn sổ cái ấy, đã ngồi từ trước nền kinh tế Quốc xã giai đoạn 1933-1945, có cùng một châm ngôn rằng nhà nước điều khiển nền kinh tế và doanh nghiệp tồn tại vì nhà nước. Hai chế độ cách nhau bốn mươi năm, đều xem chỉ tiêu là thiêng liêng, đều coi giá cả là thứ cần uốn nắn cho khớp kế hoạch, chỉ khác ở lý do họ cho phép mình áp đặt lên kẻ khác. Quốc xã thì xét theo chủng tộc; kế hoạch Soviet thì theo giai cấp. Cả hai đều đặt một mệnh lệnh từ trên xuống lên trên cái thị trường mà Marx cũng thừa nhận là cần một mệnh lệnh như vậy để khai sinh. Marx không vẽ ra đường nối ấy, nhưng ông cũng chẳng vẽ ra đường cắt để phân định chúng.
Marx đã chỉ đúng căn bệnh thế kỷ của ông nhưng rồi lại mang chính căn bệnh ấy, cô đặc lại thành giải pháp. Ông thấy bạo lực rõ hơn gần như bất cứ ai cùng thời: máu và lửa của công cuộc rào đất, những đạo luật quất roi kẻ lang thang đến khi máu túa ra khỏi thân thể họ, cỗ máy chủ quyền đứng sau mỗi tội ác ông liệt kê. Chính vì thấy rõ đến thế mà ông vẫn đáng đọc. Ông chỉ xếp nhầm bị cáo, gọi cái nhà nước làm bà đỡ bằng tên đứa trẻ nó vừa đỡ ra.
Còn lại một câu hỏi bản án này không với tới. Vì sao liều thuốc thất bại thì Trabant đã trả lời. Vì sao những cái đầu đọc kỹ từng lập luận lại chọn nó, và chọn với lòng nhiệt thành của kẻ cải đạo, thì vẫn mở. Cơn khát ấy chưa từng được định giá, và không tan đi khi liều thuốc mất uy tín. Nó chỉ thay áo. Những kẻ thừa kế căn bệnh này rồi sẽ lặng lẽ mời cái chợ quay lại, mà vẫn giữ nguyên cái tên cũ trên tấm biển.
Cảm ơn bạn đã đọc. Đây là bài viết thứ hai trong bộ ba bài viết về chủ nghĩa tư bản của kênh, dự kiến ra mắt vào tối thứ Sáu cách tuần. Bạn đọc có thể cân nhắc theo dõi kênh để có thể tìm đọc bài viết tiếp theo khi nó đã sẵn sàng.


