Đám đông Tự nguyện
Về sự đánh mất khả năng chiêm ngắm và sự trỗi dậy của một trật tự giai cấp mới được định hình bởi thói quen khước từ.
Một con chip chỉ ngang bằng cái móng tay, nơi mà hàng tỷ bóng bán dẫn xếp chồng lên nhau, mỗi cái trong số đó còn nhỏ hơn một con virus. Đó là kết tinh của bốn thế kỷ vật lý cận đại, phần lõi của một thiết bị mà chỉ một số ít người trên thế giới hiểu trọn vẹn cách nó vận hành. Con chip đó là đầu não của thiết bị đang nằm trong lòng bàn tay một anh xe ôm ở ngã tư Cao Thắng, đèn đỏ còn ba mươi giây, động cơ nổ còn chưa tắt thì đầu ngón tay đã đặt lên màn hình, lướt qua một clip TikTok nơi có một cô gái lạ đang nhảy trong căn phòng nào đó. Anh không xem cô ấy nhảy; lướt qua, vài giây sau đã đến clip kế, vài giây nữa đến một clip khác, rồi đèn xanh, anh cất điện thoại đi tiếp.
Khung cảnh ấy không có gì đặc biệt; ai sống ở thành phố thời nay đều có thể đã thấy nó rất nhiều lần, nhưng mà cái không có gì đặc biệt ấy, kỳ thực, lại là vấn đề. Trong một quán cà phê vỉa hè ở quận 3, vào một buổi chiều thứ Năm bình thường, vài người độ hai ba mươi ngồi quanh một cái bàn nhựa thấp; đá đã tan một phần, không ai trong họ ngẩng đầu lên trong một khoảng chừng mười, mười lăm phút. Họ đến quán cùng nhau, gọi cà phê, ngồi quây thành cái vòng của những người đến đây để nói chuyện với nhau, mà trong chừng đó thời gian chết đó, không một câu nào trao đổi; mỗi người đang ở một nơi khác mà màn hình đưa họ đến, điểm đến của họ cũng chẳng trùng nhau. Khi một người trong số họ cười, đó là tiếng cười riêng tư, không liên can gì đến bốn người còn lại; rồi tiếng cười tan vào không khí.
Khung cảnh tương tự tái diễn ở khắp nơi người ta tụ họp, chỉ khác ở đạo cụ. Trong lớp học, một cậu bé trung học đặt điện thoại trong lòng dưới gầm bàn, ngón cái di chuyển khuất dưới mặt bàn, mắt vừa nhìn lên bục giảng vừa liếc xuống màn hình; thầy cô biết và học sinh cũng biết, rồi cả hai bên đều giả vờ bên kia không để ý. Tại một đám tang ở quê, người ta đặt một cái điện thoại trên giá ba chân để phát trực tiếp lễ truy điệu lên Facebook cho thân nhân ở Texas và Sydney; mà ngay cả những người có mặt trong gian phòng cũng không thực sự có mặt, vì ai cũng đang quay phim bằng điện thoại của riêng mình để dành về sau. Đám tang trở thành nội dung, đám cưới trở thành nội dung; cái sự kiện và cái một đoạn clip ngắn về sự kiện ngày một khó phân biệt.
Cứ năm giờ rưỡi sáng, một anh chạy xe ôm công nghệ đậu xe trước hẻm chung cư, gặm ổ bánh mì trong khi chờ đơn đầu tiên; tai nghe cắm một bên, đoạn video đang phát nhưng mắt anh không thực sự nhìn vào màn hình, vì anh đang ăn, vì có lẽ video chỉ để khỏa lấp khoảng trống trước khi một việc khác bắt đầu. Khoảng trống ấy, mới mấy mươi năm trước, là khoảng trống của một thế hệ ông cha có thói quen hút thuốc nhìn trời, nghe gà gáy ngoài đầu ngõ, hoặc chỉ đơn giản là ngồi yên với cái đầu đang nghĩ ngợi điều gì đó hay chẳng điều gì cả; nay khoảng trống ấy đã bị san lấp, trên xe buýt, ở thang máy công ty mỗi sáng, đến cả trên giường lúc vừa mở mắt còn nằm dưới chăn, ngón cái đã làm công việc của nó từ trước khi ý thức kịp hỏi vì sao.
Khung cảnh ấy phổ biến đến độ người ta không còn để tâm đến nó. Ta không quen suy ngẫm về những gì quá phổ biến; sự phổ biến tự nó tạo ra một lớp sương mù làm ẩn khuất tầm nhìn. Một thói quen mà bốn mươi triệu người cùng có sẽ không xuất hiện như một thói quen; nó xuất hiện như là không khí, như trọng lực, như thứ mà nếu hỏi đến thì ai cũng đáp, cứ đời nó vậy thôi. Mà cái sự đời nó vậy thôi này lại là chuyện mới, chưa từng có ở bất cứ thời đại nào trước thập niên gần nhất; giữa những việc thường thấy hằng ngày, nó là cái đến sau cùng, mà lại đang cạnh tranh chỗ của không khí làm một thứ thiết yếu trong đời sống con người.
Những người làm ra thiết bị ấy không dùng nó theo cách mà chúng ta dùng.
Steve Jobs, người làm ra chiếc iPad đầu tiên, còn không cho con mình dùng nó. Báo chí Mỹ đã nhiều lần ghi lại sự kiện ấy, nhưng ở Việt Nam thì hầu như ít người bàn đến. Phóng viên tờ New York Times năm 2014 hỏi ông về cách con cái ông phản ứng với sản phẩm mới của hãng; câu trả lời là gia đình chưa cho con cái dùng đến nó, vì giới hạn chặt thời gian con cái xem điện thoại và máy tính bảng ở nhà. Bill Gates kể lại trong nhiều cuộc phỏng vấn rằng các con của ông không có điện thoại di động cho đến năm mười bốn tuổi. Sundar Pichai, giám đốc điều hành Google, có một quy tắc mà giới quản lý ở thung lũng Silicon hay nhắc đến: con trai ông không có điện thoại riêng, và cả nhà chỉ mở TV vào những dịp nhất định.
Những chi tiết ấy nghe qua giống chuyện đời tư của ba người đàn ông giàu có đáng ngưỡng mộ, mà thật ra là dấu hiệu của một kỷ luật rộng hơn nhiều mà giới kỹ sư và quản lý sản phẩm tại các công ty công nghệ Mỹ đã âm thầm áp dụng cho gia đình mình từ hơn một thập niên qua. Trường Waldorf School of the Peninsula tại Los Altos, California, nơi đa số học sinh là con của các kỹ sư làm việc cho Google, Apple, Yahoo và eBay, có một chính sách giáo dục từ chối toàn bộ thiết bị điện tử trong lớp học cho đến hết bậc tiểu học; chỉ có bút chì, bảng đen và sách giấy. Học phí năm 2024 vào khoảng ba mươi ngàn đô la mỗi năm, thế mà danh sách chờ thường kéo dài hàng năm trời. Ở vùng Đông Bắc nước Mỹ, các trường nội trú đắt tiền nhất đang chạy đua giảm thời lượng màn hình; Phillips Exeter, Andover, Choate đều có chính sách hạn chế điện thoại trong khuôn viên trường. Tại các cuộc họp nội bộ của Meta và TikTok, theo tường thuật từ chính các cựu nhân viên, thường thấy các quản lý cấp cao bật chế độ màn hình xám trên điện thoại của họ, một thủ thuật làm giảm sức hấp dẫn thị giác của ứng dụng mà các tài liệu nội bộ về thiết kế hành vi người dùng đã đặt tên hẳn hoi.
Có một sự đồng đều ở đây: cả một tầng lớp cùng làm cùng một việc, mà không có cách nào giải thích sự đồng đều ấy bằng tâm lý cá nhân hay sở thích lẻ tẻ. Người kỹ sư dựng nên cái lồng kỹ thuật số lại dành cuối tuần đọc Tolstoy ở rừng Marin County và đưa con đến bãi biển không có wifi; trong lúc ấy, sản phẩm anh ta thiết kế vẫn chạy đều đặn, hàng ngày, trên điện thoại của bốn tỷ người không có điều kiện đặt một chuyến đi đến Marin vào cuối tuần.
Ở Việt Nam, hiện tượng tương tự đang hình thành, dù chậm hơn và lặng lẽ hơn. Trong khu Thảo Điền và An Phú quận 2, các trường quốc tế Bắc Mỹ và châu Âu, với học phí từ bốn trăm đến bảy trăm triệu đồng một năm, đều đang siết chặt chính sách điện thoại; vài trường đã cấm hoàn toàn ở khu nội trú, vài trường khác yêu cầu phụ huynh nộp máy của con đầu giờ học và nhận lại cuối ngày. Phụ huynh đăng ký vào những trường ấy phần nhiều là tầng lớp doanh nhân, chuyên viên cấp cao, quản lý hay giám đốc marketing của các công ty đa quốc gia có văn phòng tại Sài Gòn; họ làm việc cả ngày trên các nền tảng kỹ thuật số, cuối tuần đưa con lên Đà Lạt hoặc Hồ Tràm, nơi sóng yếu là điểm các khu nghỉ dưỡng đem ra quảng cáo. Chính những người sống bằng thuật toán giữa tuần lại trả tiền để con cái họ lớn lên ngoài tầm với của thuật toán; chính những người thiết kế các chiến dịch giữ chân người dùng tại các công ty thương mại điện tử lại tự đặt thiết bị của mình vào chế độ giới hạn ứng dụng vào buổi tối, theo một quy tắc họ tự áp đặt mà sẽ không bao giờ giới thiệu cho khách hàng.
Cùng một thiết bị, cùng một thuật toán mà các kỹ sư đã tinh chỉnh qua hàng ngàn vòng thử nghiệm; nhưng người làm ra nó lại tránh dùng nó như tránh tà, còn người tiêu dùng nó thì dùng nó suốt ngày như hít thở không khí. Đó là sự bất đối xứng kỳ lạ; mà từ bất đối xứng kỳ thực là chưa đủ để diễn tả. Thiết bị thì đối xứng, nó là cùng một vật trong tay cả hai phía; nhưng cách dùng thì không. Mà nếu cách dùng không đối xứng, nó trở thành vấn đề về kiến thức: người làm ra biết một điều mà người dùng không biết.
Người kỹ sư cao cấp ở Silicon Valley không kiêng dè điện thoại vì điện thoại làm họ kém năng suất; công ty cũng không dư giả để trả sáu trăm ngàn đô la một năm cho những kẻ kém năng suất. Hẳn là vì một lý do khác; một triết gia người Mỹ là Matthew Crawford đã viết hẳn một cuốn sách để định danh lý do ấy; ông gọi nó bằng một khái niệm vay của Albert Borgmann, đó là device paradigm, tạm dịch là mô thức thiết bị. Vậy họ biết điều gì mà chúng ta thì không?
Crawford là một triết gia vốn lấy bằng tiến sĩ triết học chính trị tại Chicago, ngày nay vừa giảng dạy tại đại học Virginia vừa điều hành một xưởng sửa xe mô tô ở Richmond, sự kết hợp giữa sách vở và dầu mỡ mà ông đã giải thích trong cuốn Shop Class as Soulcraft: tay người làm việc với vật, nếu được rèn dũa đủ lâu, sẽ dạy cho cái đầu những gì sách không dạy được. Năm 2015 ông xuất bản The World Beyond Your Head, một cuốn sách dài bốn trăm trang có chủ đề duy nhất là sự chú ý của con người trong thời đại mà sự chú ý ấy đã trở thành một mặt hàng có thể định giá.
Luận điểm cốt lõi của Crawford có thể trình bày thế này: sự chú ý chính là chất liệu của cái tôi. Ta không có cái tôi rồi mới chú ý đến mọi vật; ta chỉ có cái tôi trong chừng mực ta đã chú ý đủ lâu và đủ sâu vào những vật đòi hỏi sự chú ý ấy, để chúng kịp định hình ta. Người thợ máy đã sửa xe ba mươi năm không chỉ biết về xe; anh ta đã trở thành một loại người mà chiếc xe đã đúc nên qua hàng ngàn giờ tay đặt trên kim loại, mắt nhìn vào nguyên lý cơ học hiện lên qua từng bộ phận, tai nghe ra tiếng nổ hay âm thanh bất thường. Người sinh viên đọc Trại súc vật qua nhiều tuần liên tiếp cũng vậy; cuốn sách đã để lại trong cái đầu anh ta một cấu trúc mà trước đó không có. Còn người dùng lướt TikTok bốn giờ một ngày trong năm năm cũng trở thành một loại người theo cùng một cơ chế đó, dù loại người ấy chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.
Crawford không dừng ở luận điểm nhân học đó; ông đặt nó trong một bối cảnh kinh tế chính trị mà ông gọi là sự khai thác attentional commons, công địa nhận thức1. Trong cấu trúc xã hội cũ, có những không gian mặc nhiên dành cho sự rảnh rỗi của tâm trí: phòng đợi của bệnh viện, hàng dài xếp hàng ở bưu điện, ghế đá công viên, ban công vào buổi tối, cả khoảng thời gian đi bộ từ nhà đến chợ, đến trường, hay đến đâu đó. Những không gian đó không thuộc sở hữu của ai cả; chúng là một loại tài sản chung mà mỗi cá nhân có thể bước vào và bước ra mà không phải xin phép, không phải trả tiền. Trong những không gian ấy, một con người có thể nhìn quanh và nghĩ ngợi, có khi vô tình bắt gặp một đứa trẻ đang chơi hay một cụ già đang nhìn trời, và từ những bắt gặp ngẫu nhiên đó mà cái đầu của anh ta tự khâu vá lại sau những giờ làm việc.
Sự khai thác mà Crawford mô tả là chuyện này: từng không gian một trong các vùng chung ấy đã bị thợ thiết kế nghề nghiệp chiếm cho thuê. Phòng đợi bệnh viện ngày nay có TV bật suốt ngày phát quảng cáo; bưu điện thì hết tồn tại nên chuyện hàng dài ở bưu điện cũng hết theo; ghế đá công viên thì còn nhưng người ngồi trên đó cầm điện thoại. Thang máy lên tầng có một màn hình nhỏ phát quảng cáo cho mỗi vài chục giây; người ta không thể nhìn ra cửa vì chúng đã khép kín, không thể nhìn ra ngoài vì không có bên ngoài, chỉ có thể nhìn lên màn hình đó hoặc nhìn xuống điện thoại của mình. Hàng chờ tại Bách Hóa Xanh có đôi mươi giây giữa lúc đặt rổ lên quầy và lúc nhận hóa đơn; hai mươi giây ấy ngày xưa là khoảng để liếc qua hàng tạp chí, có khi gật đầu chào người đứng kế bên, ngày nay là khoảng để mở Facebook và đóng Facebook. Sự rảnh rỗi đã biến mất, mặc dù người ta không bận hơn xưa; nó biến mất vì những vùng chung của sự rảnh rỗi đã bị san lấp bằng quảng cáo và ứng dụng gặm nhấm sự chú ý.
Albert Borgmann là một triết gia khác, người gốc Đức, dạy ở Montana từ thập niên bảy mươi đến khi qua đời, mà từ đó Crawford rút ra khái niệm gọi là device paradigm. Borgmann phân biệt giữa vật (thing) và thiết bị (device). Vật là những thứ tham gia trực tiếp vào đời sống ta một cách phức tạp: cái lò sưởi đốt củi đòi hỏi cả một chuỗi việc làm gồm chặt gỗ, canh lửa qua đêm, dọn tro buổi sáng; nó đem cho ta sự ấm áp, đồng thời cũng đem cho ta một mối quan hệ kéo dài với gỗ và với mùa đông. Thiết bị thì ngược lại, cung cấp một sản phẩm cuối cùng theo yêu cầu mà giấu hết các điều kiện sản sinh ra nó. Cái máy sưởi điện cho ta cái ấm bằng một cái bấm nút, không đòi hỏi gì và không dạy ta điều gì ngoài quan hệ tiêu thụ thuần túy. Sự ấm áp trở thành một loại hàng hóa tinh khiết; ta không còn liên hệ gì với nó trừ ở khoảnh khắc nó được mang đến.
Theo lập luận của Crawford, điện thoại thông minh là hình thức hoàn thiện nhất của device paradigm. Nó cung cấp giải trí, thông tin, và sự hiện diện xã hội theo yêu cầu, không đòi hỏi học hành hay kiên nhẫn của người dùng. Người dùng trở thành kẻ tiêu thụ thuần túy của sự chú ý đã được nấu chín sẵn, thay vì người trồng trọt và chăm sóc sự chú ý của chính mình. Khác biệt nghe nhỏ nhặt nhưng kỳ thực rất lớn: kẻ tiêu thụ và người trồng trọt là hai loại người khác nhau, và một xã hội gồm phần đông là kẻ tiêu thụ thì khác về bản chất với một xã hội mà phần đông biết trồng trọt.
Crawford không phải là người đầu tiên nói về sự chú ý theo nghĩa đạo đức học. Ông tự thừa nhận là vay mượn nhiều từ Iris Murdoch, nữ triết gia người Anh đã dành cả sự nghiệp viết về cái mà bà gọi là moral attention, cách nhìn yêu thương và công bằng đối với cái thực. Murdoch lập luận trong The Sovereignty of Good rằng đức hạnh được hình thành chậm rãi qua hàng ngàn lần ta nhìn vào người khác và nhìn vào hoàn cảnh, hoặc nhìn cho đúng hoặc nhìn cho sai. Đến lúc phải lựa chọn, sự lựa chọn đã được quyết định bởi cách nhìn của ta nhiều hơn bởi ý chí của ta tại khoảnh khắc đó. Đạo đức theo Murdoch, là chuyện của sự chú ý nhiều hơn là chuyện của ý chí.
Murdoch viết về cái nhìn đạo đức trước khi có điện thoại thông minh. Đặt khái niệm của bà cạnh TikTok, hệ quả có thể lộ ra ngay lập tức. TikTok là môi trường tập luyện về cách nhìn, vì mỗi ba mươi giây nó lại dạy ta nhìn người khác như một dạng nội dung, đánh giá theo lượng like, và quen với phản ứng nhanh thay vì chiêm nghiệm chậm. Cái nhìn mà TikTok rèn luyện là cái nhìn nghịch lại với cái mà Murdoch gọi là moral attention; nó là cái nhìn không yêu thương và không công bằng đối với một thực tại đã được dàn dựng để phục vụ thuật toán. Nếu Murdoch đúng, nếu đức hạnh là kết quả của sự chú ý đã được luyện đúng cách qua thời gian, thì một dân số trải qua hàng giờ TikTok mỗi ngày trong nhiều năm là một dân số mà chính cấu trúc đạo đức học đã bị sửa đổi lại từ gốc bởi cơ chế kích thích thần kinh được tinh chỉnh để giữ ngón cái lướt thêm; chính cái khả năng điều chỉnh hành vi đó nằm sâu hơn bất cứ chương trình giáo dục đạo đức hay triết học chính trị nào có thể chạm tới.
Có một câu mà Pascal đã viết hồi giữa thế kỷ mười bảy, được Crawford trích trong cuốn của mình và mà mọi nỗ lực bàn về vấn đề này cuối cùng đều phải quay về nó: “Tôi đã thường nói rằng toàn bộ sự khốn khổ của con người đến từ một nguyên nhân duy nhất: không biết ngồi yên một mình trong một căn phòng”. Pascal viết câu đó trước khi có iPhone hay TikTok gần bốn thế kỷ. Thời ông, không biết ngồi yên một chỗ buộc người ta phải lao ra ngoài tìm trò chơi: săn bắn, đánh bạc, hay bất cứ thứ gì có thể giữ cái đầu khỏi phải đối diện với chính nó. Ngày nay thì con người không cần đi đâu cả; cái căn phòng vẫn là căn phòng cũ, nhưng không ai ngồi yên trong đó vì trong tay đã có sẵn dụng cụ làm cho mình không yên dù bản thân có ngồi yên về mặt thể xác.
Aristotle, trong Nicomachean Ethics đã lập luận rằng hoạt động cao nhất của con người là theoria, sự chiêm ngắm, và hoạt động ấy chỉ có thể diễn ra trong điều kiện scholē, từ Hy Lạp cho cái mà ta dịch là “rảnh rỗi” nhưng thật ra phải hiểu là sự trống vắng có chủ đích, là không gian mà đầu óc tự để cho mình không bị kéo vào công việc thường nhật. Scholē mang trong nó nghĩa của một sự rảnh rỗi cao quý, là điều kiện tiên quyết của tư duy nghiêm túc, của triết học hay là một tình bạn sâu sắc. Từ scholē mà các ngôn ngữ Tây phương có chữ schola, school, école; chúng là cả một di sản từ vựng cho một thứ mà nền văn minh ngày nay đã không còn không gian dành cho nó. Trong khung lý thuyết của Aristotle, một nhóm người đã đánh mất khả năng scholē thì không còn có khả năng triết học hay đức hạnh chính trị; nó đã trở thành một đám người chỉ còn khả năng sản xuất và tiêu thụ, đã bị giáng xuống trạng thái mà Aristotle dành cho nô lệ.
Lập luận của bộ ba Crawford-Murdoch-Aristotle đứng rất vững mạnh, tuy vậy nó cũng có một điểm yếu mà chính Crawford không đẩy đến cùng. Crawford xử lý điện thoại như một sự thâm nhập có cấu trúc, một thế lực kinh tế bên ngoài đẩy vào người dùng. Trong cách diễn đạt đó, có cái gì đó bao biện ngầm cho người dùng: anh ta hiện ra như nạn nhân của một hệ thống gặm nhấm chú ý đã được thiết kế tinh vi để bóc lột mình; mà thực tế quan sát được lại không khớp hoàn toàn với hình ảnh nạn nhân ấy. Người dùng không hề bị bắt phải dùng: anh ta xếp hàng từ đêm hôm trước khi iPhone đời mới ra mắt, trả tiền cho gói data lớn hơn để có thể lướt nhanh và nhiều hơn, và tự nguyện cài đặt thêm các ứng dụng đã được thiết kế từ đầu để chiếm thêm thời gian của mình. Sự xâm nhập này có một đặc điểm mà mọi xâm nhập trước nó trong lịch sử đều không có: nạn nhân chủ động mở cửa mời nó đi vào bên trong mình, và sẽ bực bội nếu mình không có được thứ mình muốn, tức đầy đủ mọi thứ vốn muốn nuốt trọn sự chú ý của anh ta.
Crawford có thể nói rằng đó chính là dấu hiệu của sự xâm nhập đã thành công đến độ làm hỏng cả khả năng nhận ra tình trạng của bản thân. Nhưng nó vẫn chưa đủ. Nếu chỉ như thế, thì điều gì trong cấu tạo của người hiện đại đã làm anh ta sẵn sàng đến vậy? Không ai bắt anh ta làm nô lệ; chính anh ta đi mua dây xích về tự tròng vào cổ mình. Câu hỏi đó vượt khỏi tầm với của Crawford. Crawford làm việc trong khung nhân học và hiện tượng học, vốn không chung đụng đến câu hỏi vì sao một xã hội lại sản xuất ra những người sẵn sàng tự xích chân chính mình.
Mà nếu sự chú ý là chất liệu của cái tôi, và nếu một nhóm người đã đánh mất khả năng chú ý có chủ đích, thì vấn đề trở thành vấn đề chính trị; cụ thể hơn, nó trở thành vấn đề giai cấp.
Vấn đề giai cấp không phải lúc nào cũng được hiểu theo cùng một cách, và mỗi thời đại lớn đã sản sinh ra một khung phân tích riêng đáp ứng các điều kiện vật chất của nó. Marx đã nhìn ra giai cấp ở quyền sở hữu tư bản; ai sở hữu các phương tiện sản xuất là chủ, ai chỉ có sức lao động để bán là tớ. Khung phân tích này có sức mạnh phi thường vì nó vạch ra một sự đối nghịch khách quan có thể quan sát được trong nhà máy, trên đồn điền hay ở mỏ than. James Burnham, viết một thế kỷ sau ấy từ New York, lập luận trong The Managerial Revolution rằng cuộc cách mạng thực sự của thế kỷ hai mươi đã diễn ra theo một hướng Marx không tiên liệu được: quyền lực trôi từ chủ sở hữu sang giai cấp quản lý gồm các kỹ sư và chuyên viên kỹ trị, những người không sở hữu nhà máy nhưng vận hành nó và do đó nắm quyền thực sự. Burnham giải thích được nhiều thứ mà Marx không giải thích được, đặc biệt là hiện tượng bộ máy đảng và doanh nghiệp đan xen vào nhau ở mọi nền kinh tế công nghiệp đương đại, dù mang trong mình một đường hướng chính trị nào.
Cả hai đều đúng vào thời của họ, nhưng nếu chỉ dùng lăng kính của họ để soi chiếu những hiện tượng đương thời, thì dường như vẫn chưa đủ sức làm thỏa mãn những người đọc khó tính. Marx nhìn giai cấp qua quyền sở hữu khả kiến; nhưng quyền sở hữu hữu hình đã không còn là yếu tố trung tâm trong nền kinh tế chú ý (attention economy), nơi các phương tiện sản xuất hữu hình là vài máy chủ và hàng tỷ thiết bị di động đã bán cho người dùng cuối, mà sản phẩm thực sự được sản xuất là chính sự chú ý của bốn tỷ người. Burnham nhìn quyền lực qua chức năng hành dụng trong tổ chức; nhưng các chuyên viên thiết kế thuật toán giữ chân người dùng tại Meta hay TikTok không xuất hiện trên bất cứ sơ đồ tổ chức nào theo nghĩa cổ điển. Họ không quản lý nhân viên hay phê duyệt ngân sách theo cách cổ điển. Quyền lực hành dụng họ nắm trên đầu bốn tỷ người dùng còn lớn hơn quyền lực của bất cứ vị bộ trưởng nào trong bất cứ chính phủ nào.
Lý thuyết giai cấp đương đại tại Mỹ, qua những tay viết như Charles Murray, Patrick Deneen, Yuval Levin, đã cố mở rộng khung của Marx và Burnham bằng cách thêm vào các biến số mới: trình độ giáo dục, nơi ở, mạng lưới quan hệ, hay thói quen tiêu dùng văn hóa. Christopher Lasch, trước họ, đã viết hẳn cuốn The Revolt of the Elites and the Betrayal of Democracy nhận diện một sự rút lui cấu trúc của tầng lớp tinh hoa Mỹ ra khỏi đời sống công; tinh hoa không còn giả vờ chia sẻ một cuộc sống chung với quần chúng, mà đã dựng lên các thiết chế song song cho chính mình, gồm trường tư riêng và khu phố biệt lập, trong khi để cho các thiết chế công cộng dành cho dân thường đang trên bờ vực suy thoái.
Lasch đã thấy trước phần lớn bức tranh của thời đại sau ông, nhưng có một thiết chế song song mà ông không thể thấy vì công nghệ chưa cho phép: thiết chế cho phép sự triệt thoái chú ý2 (withdrawing attention). Tinh hoa của thời đại Lasch rút lui khỏi quận Bronx của New York và chuyển đến khu Westchester; tinh hoa của thời đại chúng ta rút lui khỏi cấu trúc ăn mòn sự chú ý mà chính họ đã thiết kế cho người khác. Cuộc triệt thoái ở thời đại này nghiêm trọng hơn so với thời trước, vì trong khi người dân Bronx vẫn có thể đi làm tại Westchester nếu có việc, thì người dân của nền kinh tế chú ý không thể đi làm tại địa hạt mà tinh hoa đã giữ cho riêng mình được; địa hạt ấy là một thói quen tâm trí, mà thói quen tâm trí thì không vay mượn được.
Cái mới của giai cấp này, do đó, là nó được định nghĩa không phải bởi điều nó sở hữu, mà bởi điều nó từ chối tiêu dùng. Đó là sự đảo ngược triệt để của mọi lý thuyết giai cấp đã có trước đó. Trong khung của Marx, giai cấp trên là giai cấp tiêu thụ nhiều hơn, dùng nhiều hơn, sở hữu nhiều hơn cùng một loại hàng hóa mà giai cấp dưới khao khát; sự ganh đua giai cấp được tổ chức xung quanh sự bất bình đẳng về số lượng. Trong khung mới, giai cấp trên là giai cấp tiêu thụ ít hơn cùng một loại hàng hóa mà giai cấp dưới được khuyến khích tiêu thụ vô độ; sự bất bình đẳng giờ đây được tổ chức xung quanh sự kỷ luật, không còn xung quanh sự dồi dào.
Xuyên suốt lịch sử của giai cấp, đây là một hiện tượng chưa từng có. Người chủ nhà máy năm 1880 ăn cùng một loại bánh mì với người công nhân của ông; ông uống nguồn nước cùng độ ô nhiễm, thường ô nhiễm hơn vì ở gần nhà máy hơn; ông cũng hít cùng bầu không khí ám khói than. Sự đối nghịch giai cấp được tổ chức xung quanh việc ai kiểm soát bánh mì và khói than, nhưng cả chủ lẫn tớ đều tiêu thụ chúng cùng nhau. Nhưng nay thì đã khác. Vị tỷ phú công nghệ năm thời nay không tiêu thụ sản phẩm của chính mình theo cách khách hàng của mình tiêu thụ. Ông không thể tiêu thụ. Nếu ông tiêu thụ, ông sẽ trở thành khách hàng, và chính cái cấu trúc đã làm ông giàu có sẽ làm ông không còn đủ năng lực để duy trì vị thế ấy.
Tocqueville đã quan sát một điều liên quan, dù cho không cùng bối cảnh. Trong Democracy in America, ông phân biệt giữa quý tộc đích thực và quý tộc giả. Quý tộc đích thực, đối với ông, là những người duy trì các thực hành như nghi lễ, học hành cổ điển, kỷ luật thân thể; những thực hành chính là thứ phân biệt họ về chất với tầng lớp dưới. Quý tộc giả của nước Mỹ thời Tocqueville đến chỉ tiêu thụ cùng những loại hàng hóa như tầng lớp trung lưu nhưng tinh tế hơn, bóng loáng hơn; đó là tầng lớp khác về độ tinh chế, nhưng không khác biệt cơ bản về bản chất. Trong hiện tại Việt Nam, tầng lớp doanh nhân giàu có đầu thế kỷ này, với chiếc Mercedes và biệt thự Thảo Điền, là quý tộc giả theo nghĩa Tocqueville; họ tiêu thụ cùng những loại hàng hóa với tầng lớp trung lưu, chỉ ở mức cao cấp hơn. Tầng lớp tinh hoa mới đang hình thành, gồm những người làm ra điện thoại và rồi không dùng, gần với khái niệm quý tộc đích thực hơn, vì sự phân biệt của họ với quần chúng là về chất lượng đời sống tinh thần, không phải về số lượng tài sản vật chất.
Vị tu sĩ trong tu viện đọc Kinh sáng và đi bộ trong vườn hai giờ mỗi ngày, không có điện thoại lại có nhiều chủ quyền nhận thức hơn vị tỷ phú Singapore lướt TikTok trên ghế sau chiếc Maybach. Liệu đây có phải là một mô tả nguyên dạng của một sự bất đối xứng năng lực con người? Vị tu sĩ có thể ngồi yên một giờ cách dễ dàng mà không phải khủng hoảng gì, nhưng vị tỷ phú thì khó nói. Chính tài sản của vị tỷ phú đã không cho ông khả năng có được điều mà vị tu sĩ có miễn phí. Đây là dạng bất bình đẳng mà dường như hầu hết những khung lý thuyết về phân phối tài sản đều không chạm tới; tiền không mua được sự định tâm, và càng nhiều tiền trong nền kinh tế chú ý thì càng thường có nghĩa là càng khó để mà không xao nhãng được.
Hệ thống giai cấp này hoạt động ở khắp nơi trên thế giới hiện đại, nhưng nó hoạt động ở Việt Nam dưới những điều kiện riêng mà hiếm nhà bình luận nào có dịp quan sát kỹ.
TikTok thuộc sở hữu của ByteDance, một công ty Trung Quốc có trụ sở tại Bắc Kinh. Năm 2020, sau khi căng thẳng biên giới với Trung Quốc tại vùng Galwan leo thang, chính phủ Ấn Độ ra lệnh cấm hoàn toàn ứng dụng này; lệnh cấm vẫn còn hiệu lực đến ngày hôm nay. Ở Indonesia, nền tảng đã bị tạm cấm năm 2018 và hiện vẫn vướng vào nhiều vòng tranh cãi quy định liên tiếp. Tại Mỹ, đạo luật buộc ByteDance phải bán phần TikTok của mình hoặc chấp nhận bị cấm đã được Quốc hội thông qua năm 2024 trên cơ sở an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, nền tảng này tiếp tục hoạt động như chưa từng có vấn đề gì; số lượng người dùng đã vượt năm mươi triệu người và còn đang trên đà tăng.
Đó là một sự kiện. Sự kiện thứ hai là một dân số dành hàng giờ mỗi ngày để lướt TikTok không phải đang xây dựng đời sống công dân theo bất cứ nghĩa nào; họ đang ở một nơi khác, được đưa đến đó bằng thuật toán, được giữ ở đó bởi cơ chế thưởng cắm rễ sâu trong hệ thần kinh, và được tinh chỉnh trên hàng trăm triệu vòng thử nghiệm. Sự kiện thứ ba là một dân tộc như vậy thì dễ cai trị hơn một dân tộc có cùng dân số nhưng khác về cách dùng thời gian. Đó là một thực tế chính trị mà mọi người làm chính trị nghiêm túc đều biết và không cần ai phải nói ra. Người dân thường được giải trí thì ít đặt câu hỏi hơn người dân thường buồn chán; người dân lướt điện thoại một mình thì khó kết thành nhóm hơn người dân ngồi cùng nhau ở quán; người dân theo dõi một sự kiện qua điện thoại của riêng mình thì khó tập hợp ý kiến hơn người dân chứng kiến nó cùng nhau ở chỗ công cộng. Đó là một thứ chân lý cũ kỹ mà mọi nền cai trị từ đế chế La Mã đến nay đều hiểu, dù không phải đế chế nào cũng có công cụ để vận dụng đến mức tinh vi như TikTok có thể cung cấp.
Trong các diễn ngôn truyền thống về tự do, thị trường thường bị mặc định là tác nhân xói mòn, còn nhà nước đóng vai trò làm rào giậu bảo vệ các giá trị truyền thống; cách phân vai ấy tỏ ra hợp lý ở những bối cảnh nơi tư bản thực sự là một thế lực phá bĩnh và nhà nước thực sự là một thiết chế bảo trợ. Ở những bối cảnh khác, vai trò này có thể bị đảo ngược. Nhưng lần này, cuộc bức tử truyền thống không đi kèm tiếng ồn của máy ủi. Không có ngôi đình làng nào bị san phẳng; các cấu trúc vật lý vẫn đứng y nguyên và thậm chí còn được đóng khung bảo vệ dưới danh xưng di tích. Chỉ là, quyền lực không cần thiết phải phá hủy những cấu trúc ấy nữa, bởi lẽ sẽ chẳng còn ai bước vào đó. Một phiến màn hình nhỏ bé nằm gọn trong lòng bàn tay đã âm thầm hoàn tất cuộc thanh trừng mà không một sắc lệnh nhà nước nào có thể thi hành nếu không muốn vấp phải sự kháng cự khốc liệt. Nó tước đoạt sự hiện diện của con người mà chẳng cần đến một khế ước để đánh đổi. Dung túng cho nó có chi phí cưỡng chế bằng không; nhưng nỗ lực cấm đoán nó lại mang đến một cái giá chính trị khổng lồ.
Quay trở lại quán cà phê vỉa hè mà ta đã ngồi vào ngày thứ Năm đó; đến bây giờ thì hình ảnh ấy có thể được nhìn nhận khác đi. Những con người đó là hiện thân của một kiểu mẫu dân cư được thiết kế ngược lại với chủ thể công dân mà các thiết chế dân chủ và xã hội dân sự cần đến để vận hành. Họ không có gì để chống đối, vì không có gì khiến họ bực mình đủ lâu để đọng lại; mỗi vài mươi giây là một clip mới, mỗi clip mới là một cảm xúc khác, không cảm xúc nào kịp dày lên để trở thành một quan điểm. Họ có thể tham gia một việc chung nếu có ai đứng ra mời, có thể đặt bút ký vào một bản thỉnh nguyện thư nếu có người đưa đến tận tay, nhưng họ không có cách nào tự khởi xường những điều ấy, vì hành trình đến được đó đòi hỏi một loại sức bền nhận thức mà hàng giờ TikTok mỗi ngày trong nhiều năm đã làm cho không còn khả thi.
Trong một bữa cơm gia đình, đứa con gái chưa đủ thành niên đặt điện thoại trên đùi suốt bữa ăn; mẹ nó nói “ăn xong đi rồi xem”, đứa bé gật gù mà ngón cái không dừng. Đứa em trai còn học cấp một ngồi đối diện, có một chiếc máy tính bảng đặt cạnh chén cơm, đang xem YouTube ở mức âm lượng vừa đủ để không bị nhắc nhở. Cha của hai đứa thì đang ngồi đầu bàn, đang nhắn tin công việc; điện thoại nằm úp xuống bàn nhưng đèn báo vẫn nháy lên mỗi vài phút và bàn tay phải của ông vẫn phải với tới nó liên tục. Trong gần tiếng đồng hồ cả nhà ngồi chung một mâm cơm ấy, có khoảng hai mươi phút thực sự được dành cho các thành viên có mặt; bốn mươi phút còn lại, mỗi người ở một nơi khác, được dụng cụ nhỏ bằng bàn tay đưa đến đó. Cả nhà ngồi cùng bàn nhưng từng người trong số họ đã ăn riêng từ lâu.
Có một luận điểm nhỏ mà Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã đặt ra trong cuốn Cái Dũng của Thánh Nhân xuất bản hơn bảy chục năm trước, mà cấu trúc của thời đại hiện tại làm cho nó trở nên cấp thiết đến mức bất ngờ. Ông không định nghĩa cái dũng như sự can trường xông pha, mà gọi tên nó qua trạng thái điềm đạm của tâm trí, đó là một khoảng không gian tĩnh mặc có chủ đích mà chỉ những người có nội lực dày dặn mới đủ sức dung chứa, thay vì hoảng loạn lao vào lấp đầy nó bằng những kích thích ngoại biên. Sự tĩnh ấy, theo Nguyễn Duy Cần, đứng ngược hẳn với sự chây ì hay lười nhác; nó là điều kiện tiên quyết của một phán đoán sáng suốt, là bộ lọc tối hậu để phân định cái đáng làm và cái phải gạt bỏ. Pascal đã nói cùng một điều bằng một ngôn ngữ khác ba thế kỷ trước đó: toàn bộ sự khốn khổ của con người đến từ chỗ không biết ngồi yên trong một căn phòng. Nguyễn Duy Cần và Pascal, không quen biết nhau, không cùng truyền thống tôn giáo, đã tới cùng một kết luận từ hai phía của địa cầu: bất kỳ nền văn minh nào không nuôi được khả năng ngồi yên ở một bộ phận đáng kể của dân số mình thì sẽ trượt xuống một loại bệnh không có thuốc chữa.
Thu Giang viết những dòng đó trong một bối cảnh lịch sử mà các tác nhân tước đoạt sự điềm đạm vẫn còn vô cùng thưa thớt: xã hội Việt Nam thập kỉ 50 của thế kỉ trước là một không gian chưa bị xâm lấp bởi màn hình truyền hình, làn sóng radio vẫn chưa phủ khắp, và thậm chí ánh sáng điện vẫn là một thứ xa xỉ ở phần lớn các vùng nông thôn. Ngay từ lúc đó, ông đã dự cảm về một cuộc khủng hoảng đối với năng lực chiêm nghiệm của con người khi làn sóng kích thích của đời sống hiện đại tràn vào. Bảy mươi lăm năm sau, lời cảnh báo của ông không còn nằm ở lằn ranh của một giả thuyết triết học chờ được kiểm chứng; nó đã chính thức trở thành một hiện thực, một sự bần cùng hóa nhận thức có thể được xác chẩn chỉ bằng một cái nhìn lướt qua những kiểu mẫu cư dân đang ngồi quanh ta.
Câu trả lời không sáng sủa. Không một thế hệ nào trong lịch sử Việt Nam có ít cái tĩnh hơn thế hệ hiện tại. Mà thế hệ hiện tại không hề biết là mình đang thiếu nó, vì để biết mình thiếu một thứ thì cần có chính cái thứ ấy ở mức tối thiểu để phát hiện ra sự thiếu vắng. Đứa trẻ chưa bao giờ ăn cơm gạo lứt sẽ không nhớ vị cơm gạo lứt; đứa trẻ chưa bao giờ ngồi yên hai mươi phút sẽ không nhớ cái yên ấy là gì.
Crawford đã chỉ ra sự chú ý là gì và sự mất nó hủy hoại con người ra sao; phân tích giai cấp làm rõ ai bảo vệ mình khỏi cái mất ấy; bối cảnh Việt Nam giải thích vì sao điều này xảy ra ở đây mà không gặp kháng cự đáng kể. Còn một câu hỏi nữa mà tôi nghĩ là khó nhất: nếu phê phán này được viết bởi một người có cái rỗi mà những người mình đang nói tới không có, thì phê phán này là một sự nhận diện đích đáng, hay chỉ là một lời phàn nàn của tầng lớp đặc quyền đối với tầng lớp dưới?
Câu hỏi ấy có cơ sở. Có một khuynh hướng tự bao biện ở những người viết loại này, là gạt câu hỏi sang một bên bằng cách nói rằng phân tích khách quan không phụ thuộc vào vị trí giai cấp của người phân tích. Câu trả lời đó quá dễ dàng để được nhìn nhận nghiêm túc. Một người công nhân đi làm ca từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, mỗi ngày sáu ngày một tuần, đứng trong dây chuyền sản xuất giày Nike hay đóng gói linh kiện điện tử cho Samsung; anh ta về nhà phòng trọ chưa đầy hai chục mét vuông cùng vợ và một đứa con; anh ta không có sách trên giá vì anh ta không có giá sách; cuộc sống đã không cho anh ta cơ hội để biết Aristotle hay Crawford là ai, và sẽ không cho anh ta cơ hội đó trong bất cứ khi nào của phần đời còn lại của anh ta. Anh ta lướt TikTok hai giờ trước khi ngủ vì đã làm việc mười hai giờ và cần một thứ gì đó nhẹ vào trong đầu trước khi nhắm mắt; gọi đó là thiếu kỷ luật là không hiểu gì về mười hai giờ làm việc quần quật ấy. Nói với anh ta rằng anh ta đang phá hủy cấu trúc đạo đức học của chính mình theo Murdoch, theo Crawford hay Aristotle là làm một hành động mang tính giai cấp rất rõ rệt; là giả định rằng có một loại đời sống tinh thần mà tầng lớp đặc quyền đã hoàn thành và rằng anh ta nên khao khát nó.
Lập luận này có một phiên bản triết học sâu hơn nữa, đến từ truyền thống Marx. Phê bình về sự chú ý mà bài này đã dựng lên trong các phía trên là một phê bình mà chỉ những người có thời gian rỗi để đọc Crawford mới có thể dựng lên; và họ có thời gian rỗi để đọc Crawford là vì cấu trúc giai cấp đã sắp xếp cho họ. Nói cách khác, chính cái tay phê bình đang lên án văn hóa tiêu thụ của tầng lớp dưới cũng đang sống bằng các thiết chế giai cấp đã sản sinh ra văn hóa đó cho người khác và sự rỗi cho mình. Người phê bình nhầm đặc quyền của mình thành sự sáng suốt đạo đức.
Còn một biện luận nữa, dân chủ hơn về mặt tinh thần và có sức nặng riêng. TikTok, dù chứa đựng tất cả những gì các phần trên đã mô tả, cũng đã đem cho hàng tỷ người cơ hội tiếp xúc với một dạng tự biểu đạt và một dạng giải trí mà các thiết chế văn hóa cao cấp truyền thống như phòng hòa nhạc, viện bảo tàng, nhà hát opera đã giữ riêng cho một thiểu số đặc quyền suốt nhiều thế kỷ. Một cô bé người ở miền Tây Nam Bộ có thể quay một đoạn clip nhỏ mình hát một bài dân ca và có hàng trăm ngàn người xem; điều đó chưa bao giờ khả thi với bất cứ cô bé nào ở Việt Nam nào trong lịch sử. Có một cái dân chủ hóa thực sự đang diễn ra trong việc này, và thật là không lương thiện nếu không công nhận nó.
Ba biện luận trên đều có sức nặng riêng. Trả lời chúng đòi hỏi nói ra một sự thật khó chịu, rằng cả hai điều có thể cùng đúng. Người công nhân nằm lướt TikTok sau ca làm đang cố gắng tồn tại, và ham muốn tồn tại là điều đầu tiên phải được tôn trọng; gọi đó là thất bại theo bất cứ nghĩa cá nhân nào là sai cả về tâm lý và về đạo đức. Đồng thời, sự xói mòn cấu trúc của khả năng chú ý ở quy mô dân số là có thật; nó xảy ra dù mỗi cá nhân trong cấu trúc dân cư ấy đang làm điều có thể hiểu được trong hoàn cảnh của anh ta. Cả hai sự thật này không loại trừ nhau, mặc dù người ta thường muốn chúng loại trừ nhau để được thoải mái chọn một bên.
Cá nhân không có lỗi, mà cấu trúc thì có vấn đề lớn; sự phân biệt nghe đơn giản nhưng kỳ thực rất khó giữ trong văn viết, vì văn viết tự nhiên có xu hướng quy lỗi cho ai đó, và khi không có một thủ phạm rõ ràng thì người đọc sẽ ngầm coi nạn nhân là thủ phạm. Không ai đang lướt TikTok đều là người đáng trách; mà chính cái cấu trúc đã làm cho cả những người công dân ấy lướt thì là một cấu trúc đáng phân tích nghiêm túc, và cái phân tích ấy không có nghĩa là thực hiện trong sự khinh thường người lướt.
Tôi không đứng ngoài cấu trúc đang bị mô tả. Cùng cái thiết bị đang bị chỉ trích ở trên, tôi đã dùng để soạn bài này, sẽ dùng để đăng tải nó lên kênh, và cũng sẽ kiểm tra xem liệu ai đó có đọc nó không. Bài viết về sự xói mòn chú ý đang được sản xuất bằng chính cái công cụ làm xói mòn chú ý. Sự thật này không làm cho phê bình mất đi trọng lượng, nhưng nó làm cho phê bình không có chỗ đứng trong sạch để mà phân biệt ai với ai. Mọi người làm phê bình về văn hóa kỹ thuật số đều ở trong tình trạng này, và sẽ là tự lừa mình nếu vẫn cứ vỗ ngực xưng mình là kẻ nằm ngoài vòng ảnh hưởng này.
Vậy có khi nào trong lịch sử nhân loại từng có một dân số đã đánh mất khả năng chú ý có chủ đích ở quy mô lớn rồi sau đó tự khôi phục lại được khả năng ấy bằng quyết định tập thể? Câu trả lời thành thật nhất là chưa từng có. Có những trường hợp cá nhân là người tu sĩ rút vào tu viện, người trí thức ẩn vào thư phòng, một số cộng đồng nhỏ giữ riêng các kỷ luật của mình như Amish, một số dòng tu Bénédictine, vài ngôi làng cổ Nhật Bản giữ lễ trà và cung đạo. Các trường hợp ấy có thật, nhưng tất cả đều là rút lui của thiểu số khỏi dòng chính. Chưa từng có một dân số ở quy mô quốc gia mà sau khi đã trượt vào sự xói mòn chú ý đã chọn cách tự kéo mình ra. Kết luận này không cho ta hy vọng, nhưng nó là kết luận lương thiện duy nhất khả dĩ.
Cùng lúc đó, ở ngã tư Cao Thắng, một anh xe ôm vẫn ngồi đợi đèn đỏ, máy nổ chưa tắt, đầu ngón tay đã đặt lên màn hình, lướt qua một clip TikTok có một cô gái lạ đang nhảy trong căn phòng nào đó. Anh không xem cô ấy nhảy; lướt qua, vài giây sau đã đến clip kế, vài giây nữa đến một clip khác, rồi đèn xanh, anh cất điện thoại đi tiếp. Trong tay anh, một vi mạch chỉ bằng móng tay út, nơi ba tỷ bóng bán dẫn xếp lớp, mỗi bóng nhỏ hơn một con virus; kết tinh của bốn thế kỷ vật lý cận đại, phần lõi của một thiết bị mà chỉ vài người trên thế giới hiểu trọn vẹn cách nó vận hành.
Anh ấy thì vẫn vậy; còn ta, sau khi đã đọc đến đây, có dám chắc bài viết này không phải là về chính mình?
Từ này hơi khó để chuyển ngữ sang tiếng Việt. Commons thường được gắn liền với học thuyết The Tragedy of the Commons, là khi một tài nguyên không thuộc sở hữu tư nhân, ai cũng muốn khai thác tối đa vì lợi ích cá nhân, dẫn đến sự cạn kiệt và sụp đổ của toàn bộ hệ sinh thái đó. Tôi mượn từ Công địa (mảnh đất chung của công chúng, hay gọi nôm na là đất công) để có thể liên tưởng đến cái gốc của từ commons đó.
Thường thì nó được dịch là sự rút lui chú ý, nhưng đọc thấy hơi sống sượng nên muốn thêm chút Hán Việt vào cho nó. Rút lui thì nghe có tính chiến thuật; còn hành động này thì mang nhiều phần nghĩa cắt đứt hoặc ngừng phân bổ nguồn lực vào nó (những tác nhân ăn mòn sự chú ý).



Trong quyển iGen của Jean Twenge, bà trích dẫn một câu rằng giới doanh nhân công nghệ áp dụng một nguyên tắc của giới buôn ma tuý: không sử dụng sản phẩm do chính mình làm ra.
Sự suy giảm sức bền chú ý, theo Twenge phản ánh, đã xảy ra ở Gen Z Mĩ. Điều này thật khó khăn vì để thay đổi được họ thì chúng ta cần cho họ đọc trước đã. Nhưng vấn đề của giới trẻ ngày nay là giảm đọc nghiêm trọng.
Những bài như bài viết này thật hay và có sức lay động mãnh liệt, nhưng chỉ khi nó được đọc, trong lặng im, bất động, và 20 phút liên tục.
Tôi đồng cảm với tác giả. Tôi đã từng gặp câu hỏi: youtube làm clip 10 phút có thể xem lại nhiều lần để suy ngẫm, còn clip 10s thì thực sự giá trị nội dung được đo đếm như thế nào.